Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, sáng tạo, thi đua lập thân, khởi nghiệp, xung kích, tình nguyện xây dựng quê hương giàu đẹp - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, thi đua rèn đức, học tập, lao động, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ quê hương                     
11:39 ICT Chủ nhật, 28/05/2017

THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

LIÊN KẾT WEBSITE

Website NTLS Trường Sơn
Đoàn Dân Chính Đảng
cho thue xe 4 cho, thue xe

Trang nhất » TIN TỨC » Đoàn TNCS Hồ Chí Minh » Lịch sử Đoàn TNCS HCM

CHƯƠNG I: NGUYẾN ÁI QUỐC VÀ TỔ CHỨC VIỆT NAM THANH NIÊN CÁCH MẠNG ĐỒNG CHÍ HỘI VỚI QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ THÀNH LẬP ĐOÀN

Thứ sáu - 17/09/2010 09:11 | Đã xem: 6819

LỜI TỰA

              Sự phát triển vẻ vang của dân tộc ta từ khi có Đảng và Bác Hồ kính yêu đến nay luôn gắn liền với những kỳ tích của các thế hệ thanh niên được vũ trang bằng lý tưởng cách mạng cao đẹp.
             Lịch sử Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên nước ta là lịch sử của đội quân xung kích luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng; chiến đấu, hy sinh oanh liệt; lao động sáng tạo, kiên cường, góp phần làm rạng rỡ non sông đất nước ta.
           Quá khứ hào hùng của các thế hệ đi trước là truyền thống tốt đẹp hướng dẫn các thế hệ trẻ ngày nay đoàn kết phấn đấu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đi vào tương lai, sánh vai các cường quốc năm châu như mong muốn thiết tha của Bác Hồ kính yêu.
Đọc lịch sử Đoàn, mọi cán bộ, đoàn viên thanh niên hãy tự soi mình để tự rèn luyện, phấn đấu tốt hơn góp phần xứng đáng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa yêu quý của chúng ta.
                                                                                                                                  PHẠM VĂN ĐỒNG

MỞ ĐẦU
TUỔI TRẺ LÀ MÙA XUÂN CỦA XÃ HỘI

 

            Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội
           Câu nói của Bác Hồ trong bức thư gửi cho thanh thiếu niên nhân ngày Tết Độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam sau ngày Cách mạng thành công (1-1946) không chỉ nói lên niềm tin vào thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng tương lai của đất nước mà còn nêu lên một chân lý lịch sử về vai trò của các thế hệ trẻ đối với tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.
           Ngay ở buổi bình minh của lịch sử dân tộc ta, những truyền thuyết gắn liền với thời đại các vua Hùng dựng nước đều biểu dương sức trẻ trong công cuộc chinh phục thiên nhiên (Sơn Tinh - Thủy Tinh, Mai An Tiêm...), xây dựng đời sống, tập quán văn hóa (Lang Liêu với sự tích bánh chưng, Chử Đồng Tử...) và đặc biệt trong sự nghiệp giữ nước. Câu chuyện truyền thuyết về Thánh Gióng, cậu bé làng Phù Đổng tuổi nhỏ chí lớn đã gánh vác việc nước, cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân bảo vệ Tổ quốc đã trở thành biểu tượng của ý chí độc lập tự do cho dân tộc ta:
                            "Thiếu niên ta rất vẻ vang
                           Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
                           Tuổi tuy chưa đến chín mười,
                           Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương"
                           (Hồ Chí Minh - Lịch sử nước ta)

          Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên của mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Một ngàn năm đô hộ của nhà Hán được chính sử nước ta chép lại như một đêm trường nô lệ, nhưng ở đó vẫn lóe sáng lên những tấm gương nghĩa liệt của các thế hệ người Việt yêu nước chống lại ách thống trị và âm mưu đồng hóa của ngoại bang. Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ vào giữa thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên (40-43) là ngọn cờ đầu của tuổi trẻ. Sử sách không nói chính xác tuổi tác của Hai Bà khi dựng cờ tụ nghĩa, nhưng cuộc nổi dậy với lý tưởng:
                           "Một, xin rửa sạch mối thù
                           Hai, xin đem lại nghiệp xưa vua Hùng..."
                            (Thiên Nam ngũ lục)
đã thu hút đông đảo nhân dân tham gia mà sử sách hay các thần phả ở nhiều địa phương còn lưu giữ được cho biết một đội ngũ rất đông đảo tên tuổi các vị tướng của Hai Bà tuổi còn rất trẻ như Thánh Thiên, Lê Chân, Thiều Hoa, Xuân Nương, Cao Thị Liên, Nàng Tía,v.v... tất cả đều ở độ tuổi đôi mươi.
          Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng, nghĩa quân chiếm được 65 thành và Hai Bà đóng đô ở Mê Linh, nhưng cuối cùng cũng thất bại sau khi nêu được khí tiết lẫm liệt của một dân tộc sẵn sàng hy sinh để giành quyền tự chủ đối với giang sơn gấm vóc của các vua Hùng để lại.
          Hai thế kỷ sau, vào năm 246, một cuộc khởi nghĩa cũng do một thiếu nữ tuổi tròn hai mươi có tên là Triệu Thị Trinh chỉ huy đã bùng nổ từ căn cứ Ngàn Nưa (của đất Cửu Chân, nay thuộc Thanh Hóa) nêu cao ý chí quật khởi:
            "Người ta sống trong hồng trần, như mầm cây ngọn cỏ, tươi héo chỉ trong nháy mắt, từ thanh niên tới già cỗi nhanh chóng như bay. Cho nên không kể là trai hay gái, phải lập công lớn để thơm ngàn năm, việc gì lại cúi đầu khom lưng làm tôi tớ cho kẻ khác...
           Ta quyết cưỡi gió, đạp sóng, chém cá kình ngoài biển Đông, quét sạch bờ cõi, cứu dân khỏi lầm than, chứ không thể cúi đầu khom lưng làm tì thiếp người".
           Cũng như Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh cũng không thành, người nữ anh hùng đã lên núi Nùng tuẫn tiết khi mới vừa 22 tuổi (năm 248) và được nhân dân muôn đời tôn vinh là vua Bà, Bà Triệu...
            Sau Bà Triệu, lịch sử những thế kỷ sau của dân tộc ta còn được viết tiếp với tên tuổi của những người anh hùng cứu nước mà tiêu biểu là Lý Bí(2), người đã lãnh đạo nhân dân chống ách đô hộ của nhà Lương. Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào năm 541 đánh chiếm Long Biên rồi liên tiếp đánh bại viện binh từ phương Bắc tới. Tháng 2 năm 544, Lý Bí xưng vương là Lý Nam Đế lập ra nước Vạn Xuân.
           Giúp Lý Nam Đế lập nên nghiệp lớn, cùng với những lão tướng như Phạm Tu còn có nhiều vị tướng trẻ như Trương Hống, Trương Hát và người kế nghiệp là Triệu Quang Phục làm nên kỷ nguyên độc lập đầu tiên của nước Vạn Xuân sau ngàn năm đô hộ của phương Bắc. Vào thế kỷ thứ VIII, nối tiếp cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan nổi dậy chống nền đô hộ của nhà Đường, ba anh em họ Phùng ở xứ Đường Lâm (Sơn Tây) là Phùng Hưng, Phùng Hải, Phùng Dĩnh cùng ở tuổi 18 đã phất cờ khởi nghĩa vào năm 767. Chiến đấu liên tục một phần tư thế kỷ, năm 791 nghĩa quân đã thu lại non sông gấm vóc dựng nền tự chủ. Phùng Hưng được dân suy tôn là “Cha Mẹ” khi ông mới tròn 30 tuổi (Bố Cái Đại Vương).
          ở thế kỷ thứ X, một vị tướng trẻ là Ngô Quyền cũng ở tuổi 30 đã phò giúp Dương Đình Nghệ đánh quân Nam Hán, rồi tự mình thống soái quân binh lập chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng vào năm 938 tiêu diệt đại binh Nam Hán, giành nền tự chủ lâu dài cho dân tộc ta, mở vương triều nhà Ngô khi ông mới bước vào tuổi 40. Cũng ở độ tuổi tương tự, Lê Đại Hành mở ra triều Tiền Lê sau khi đã giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn sứ quân rồi tự mình cầm quân đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống (981). Sự nghiệp củng cố quyền tự chủ của các triều Ngô-Đinh-Tiền Lê đã đắp nền móng cho một thời đại hưng thịnh của dân tộc gắn liền với việc dựng đô ở Thăng Long của Lý Thái Tổ (1010). Nền văn hiến của Nhà nước Đại Việt thời Lý gắn liền với công cuộc bảo vệ biên cương của đất nước. Trong sự nghiệp ấy, tên tuổi của Nông Trí Cao, chàng trai 26 tuổi lãnh đạo cộng đồng các dân tộc ít người che chắn biên cương phía Bắc chống giặc ngoại xâm cũng như của ỷ Lan phu nhân, từ một thiếu nữ hái dâu chăn tằm trở thành người nhiếp chính công việc triều đình giúp chồng đánh giặc và giúp con trị nước, góp phần vào công cuộc phá Tống bình Chiêm, mở ra thời thịnh trị cho quốc gia Đại Việt.
          Vào thời ỷ Lan nhiếp chính, quân dân nhà Lý với vị tướng tài như Lý Thường Kiệt đã chặn đứng âm mưu xâm lược của nhà Tống, đánh sâu vào đất địch và lập chiến công trên sông Như Nguyệt và âm mang bài thơ “Thần”: "Nam quốc sơn hà Nam Đế cư"... như lời tuyên ngôn bất hủ về nền độc lập dân tộc, muôn đời cổ vũ cho các thế hệ người Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
           Cũng chính vào thời kỳ này, khoa thi đầu tiên đã được mở (năm 1075) để chọn người ra giúp việc nước, mở ra tiền đồ phấn đấu trí tuệ cho các thế hệ hiền tài của quốc gia.
Kế tục nhà Lý là vương triều Trần với nền văn hiến phát triển rực rỡ, được củng cố bằng ba lần kháng chiến chống giặc xâm lược Nguyên Mông liên tục trong nửa cuối thế kỷ XIII, kết thúc toàn thắng bằng chiến công trên sông Bạch Đằng năm 1288.
          Hào khí Đông A của thời đại nhà Trần được hun đúc bởi một tinh thần "Sát Thát" viết thành chữ khắc trên tay những chiến binh trẻ tuổi cùng chung một ý chí của các bậc lão thành tại Hội nghị Diên Hồng khi hô vang câu trả lời đanh thép: "Quyết đánh". Sức mạnh ấy còn được biểu hiện bằng cả một đường lối trị nước của các nhà lãnh đạo quốc gia luôn coi trọng thế hệ trẻ. Các ông vua vượt tuổi “tứ thập” đều bước qua ngôi vị Thái thượng hoàng đế nhường việc triều chính cho những người kế vị trẻ tuổi.
            Ngay lúc giặc Nguyên Mông lần đầu tiên đến Thăng Long (1258), bên cạnh Trần Thái Tông, ngoài lão tướng Trần Thủ Độ với câu trả lời tiết tháo: "Đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ chớ lo", đã có những vị tướng đầy tài năng nhưng tuổi còn rất trẻ, tiêu biểu nhất là Trần Quốc Tuấn khi đó mới ngoài 20 tuổi, người mà trải qua ba thập kỷ chinh chiến đã trở thành người anh hùng kiệt xuất Trần Hưng Đạo, vị thống soái của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Trong trận Đông Bộ Đầu, còn có mặt thái tử Hoảng, người sau này lên ngôi với vương hiệu Trần Thánh Tông lúc này mới 18 tuổi, cùng với người em là Trần Quang Khải 17 tuổi sau này cũng trở nên một danh tướng lừng lẫy...
           Thời Trần, mỗi khi giặc ngoại xâm tới là tất cả những người trong vương hầu cùng “trăm họ đều làm lính”, vua tôi trên dưới đồng lòng đánh giặc. Câu chuyện truyền kỳ thiếu niên Trần Quốc Toản tay bóp nát quả cam quyết đòi đi đánh giặc lập công, dựng lá cờ thiêu sáu chữ vàng: "Phá cường địch, báo hoàng ân" tập hợp đội quân trai trẻ theo cha anh đánh giặc cứu nước đã trở thành một biểu tượng của truyền thống “tuổi nhở chí lớn” của các thế hệ trẻ Việt Nam:
                           "Quốc Toản là trẻ có tài
                           Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền
                           Mấy lần đánh thắng quân Nguyên
                           Được Phong làm tướng cầm quyền binh nhung"
                           (Hồ Chí Minh - Lịch sử nước ta)

          Hoặc như tấm gương Trần Bình Trọng, sinh năm 1259 tức là 1 năm sau ngày giặc Nguyên Mông lần đầu kéo đến nước ta (1258). Đến lần sau giặc đến, Trần Bình Trọng đã trưởng thành tham gia đánh giặc. Trong trận đánh ngày 21-1 năm ất Dậu (1285) ông bị giặc bắt. Bất chấp lời dụ hàng của giặc, ông hiên ngang chấp nhận sự hy sinh với câu nói bất hủ được ghi vào sử sách: "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc". Giặc đã giết Trần Bình Trọng khi ông mới 26 tuổi! Còn Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật sinh năm 1255, lập công đầu giữ yên biên cương năm 25 tuổi (1280), chỉ huy đánh thắng giặc Nguyên trong trận “Cầm hồ Hàm Tử Quan” khi mới 30 tuổi (1285).
          Đầu thế kỷ XV, giặc Minh lại từ phương Bắc tràn sang chiếm nước ta. Nhà Hồ cầm cự chỉ được ít lâu là nước ta đã bị giặc Minh đô hộ với một chính sách tàn sát và đồng hóa hà khắc. Khi đó ở đất Lam Sơn (Thanh Hóa) có một thanh niên mới 22 tuổi tên là Lê Lợi. Biết Lê Lợi là người nuôi chí lớn, quân giặc đã tìm cách dụ dỗ, mua chuộc nhưng thất bại. Sử sách đã ghi lại lời nói khảng khái của Lê Lợi: "Trượng phu ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn thuở, đâu lại xun xoe đi làm đầy tớ người".
         Mười năm sau (1416) Lê Lợi cùng những đồng chí của mình mở hội thề Lũng Nhai giao kết cùng nhau đánh giặc cứu nước. Năm 1418 cuộc khởi nghĩa bùng nổ từ đất Lam Sơn, trải qua 10 năm trường kỳ kháng chiến đã giành thắng lợi hoàn toàn, đuổi sạch quân xâm lược nhà Minh ra khỏi bờ cõi, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho Nhà nước Đại Việt dưới triều Lê, đạt tới những đỉnh cao văn hiến dưới thời Lê Thánh Tông, vị vua lên ngôi khi mới 18 tuổi với hai niên hiệu Quang Thuận và Hồng Đức kéo dài 37 năm (1460-1497).
Cho đến cuối thế kỷ XVII, đất nước ta đứng trước những thử thách lớn khi các thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn nồi da nấu thịt trong khi các thế lực xâm lược từ bên ngoài lăm le can thiệp.
          Năm 1771 từ đất An Khê của cao nguyên miền Trung đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của ba anh em, trong đó ít tuổi nhất là Nguyễn Huệ năm đó mới 18 tuổi. ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình, năm 23 tuổi (1776), Nguyễn Huệ đã mở rộng thế lực của mình tới Bình Thuận; 29 tuổi (1782) quân khởi nghĩa đã chiếm được trọn vẹn vùng đất cực nam của đất nước; 32 tuổi (1785) ông chỉ huy đánh bại 5 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút; một năm sau kéo đại quân ra diệt nhà Trịnh, dẹp tan cả hai thế lực cát cứ đất nước. Năm 1788, được tin quân Thanh từ phía Bắc tràn xuống cướp nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế lấy vương hiệu là Quang Trung rồi cuối năm đó vị hoàng đế 36 tuổi đã cất quân thần tốc ra Bắc quét sạch gần 30 vạn quân Thanh làm nên đại thắng mùa Xuân năm Kỷ Dậu, mở ra một kỷ nguyên mới cho một quốc gia có một lãnh thổ rộng lớn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Dù cho cái chết đột ngột của Hoàng đế Quang Trung ở tuổi 39 đã làm cho sự nghiệp thống nhất quốc gia của ông dang dở nhưng thời đại Tây Sơn mà ông đã mở ra mãi mãi là một đỉnh cao của ý chí quật cường của dân tộc ta "Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng là có chủ" (Minh đô sử).
           Bước vào thế kỷ XIX, mặc dầu triều đại nhà Nguyễn đã được lập trên một giang sơn thống nhất về một mối, nhưng thế nước vẫn chênh vênh trước âm mưu xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây. Những thử thách mới một lần nữa lại đòi hỏi lớp lớp người trẻ tuổi bước vào cuộc chiến đấu mới. Giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, sức mạnh của vũ khí cùng với sự bạc nhược của triều đình phong kiến có thể làm cho các thành quách của ta bị thất thủ, nhưng ý chí chiến đấu vì tự do và độc lập của Tổ quốc càng thêm kiên định. Tấm gương người anh hùng nông dân Nam Bộ Nguyễn Trung Trực là một bằng chứng đanh thép. Năm 22 tuổi (1859), Nguyễn Trung Trực đã tham gia trận đánh oanh liệt trên sông Vàm Cỏ đốt cháy chiến thuyền “Espérance” (Hy vọng) của giặc Pháp, 24 tuổi mộ nghĩa binh nổi dậy đánh phá các đồn binh của giặc và năm 31 tuổi hiên ngang bước lên đoạn đầu đài với lời cảnh cáo quân cướp nước: "Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".
          Các cuộc nổi dậy của nông dân do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo với các tên tuổi như Trương Định, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Công Tráng... cho đến Hoàng Hoa Thám kéo dài suốt nửa sau thế kỷ XIX qua đầu thế kỷ XX đã tạo nên cả một cao trào cứu nước diễn ra trên toàn quốc theo ngọn cờ của mọt ông vua trẻ yêu nước: Hàm Nghi, ra chiếu Cần Vương năm 1885 khi mới còn tuổi thiếu niên. Trong đội ngũ nghĩa quân, chủ yếu là các tầng lớp thanh niên, nổi lên những tên tuổi như Cao Thắng, một thủ lĩnh trẻ theo Phan Đình Phùng lên căn cứ Hương Khê (Hà Tĩnh) khi mới 20 tuổi, với tài năng của mình đã chế tạo được loại súng trường theo mẫu mã phương Tây và hy sinh khi mới 29 tuổi. Như Mai Xuân Thưởng đỗ cử nhân lúc 24 tuổi (1884) dựng cờ chống Pháp ở Bình Định khi 25 tuổi và hy sinh anh dũng năm 29 tuổi (1887) để lại bài thơ tuyệt mệnh khí khái:
                        "Không tính làm chi việc mất còn
                        Nợ trai lo trả ấy là khôn
                         Gió đưa hờn nghĩa gươm ba thước
                        Đá tạc lòng trung quý mấy hòn..."

          Hầu như tất cả các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp cho đến đầu thế kỷ XX đều bị dìm trong biển máu và để lại những tấm gương anh hùng...
          Trong một bài viết năm 1924, Nguyễn ái Quốc đã trích dẫn một đoạn trong hồi ký của Phó đô đốc Rêvâye thuật lại cảm nghĩ của viên sĩ quan thực dân này trước những hành động anh hùng của hai người thanh niên Việt Nam bị quân xâm lược bắt đã hiên ngang và thản nhiên đón nhận cái chết: "Thật anh hùng... ở Hy Lạp có lẽ người ta phải dựng tượng họ rồi".
         Cuộc khởi nghĩa do ông Đề Thám lãnh đạo xây dựng căn cứ ở Yên Thế (Bắc Giang) kéo dài đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX, được coi là một cái mốc chấm dứt cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc theo ngọn cờ Cần Vương cứu nước.
          Bước vào thế kỷ XX, chế độ thống trị của đế quốc Pháp đã được xác lập trên đất nước ta. Cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam tuy không khi nào chấm dứt nhưng đang đứng trước một cuộc khủng khoảng về đường lối, đòi hỏi phải tìm ra con đường đi đến thắng lợi trong bối cảnh có những thay đổi to lớn trên đất nước ta lúc này đã trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp và giữa những biến chuyển to lớn của thời đại.
           Ách đô hộ của thực dân Pháp đè nặng lên mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, nhưng chính thanh niên là lớp người phải chịu phần khắc nghiệt hơn cả. Tuổi trẻ với sức lực và những ước mơ tiến thủ đã trở thành đối tượng khai thác của guồng máy thống trị thực dân. Hai cuộc khai thác thuộc địa được tiến hành trước và sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã bần cùng hóa những người nông dân ở nông thôn, đẩy nguồn nhân lực khốn cùng mà phần lớn là những người trai trẻ vào các hầm mỏ, đồn điền. Hàng vạn thanh niên Việt Nam phải rời Tổ quốc để lao động khổ sai trong các đồn điền tại các thuộc địa của thực dân Pháp trên các đại dương. Đặc biệt là trong cuộc chiến tranh đế quốc, hàng chục ngàn thanh niên Việt Nam đã phải “nộp thuế máu” bị lùa sang những chiến trường ở châu Âu để giành giật quyền lợi cho bọn trùm tư bản. Nhiều người trong số họ đã bỏ mạng nơi đất khách quê người.
           Một chế độ giáo dục và những chính sách xã hội thuộc địa được áp dụng trên đất nước ta, không chỉ đày đọa về thể xác, bóc lột sức lao động mà còn bóp chết mọi ước mơ của tuổi trẻ. Nền giáo dục truyền thống vốn luôn tạo cơ hội cho mọi người có thể vươn lên bằng học tập và thi cử đã bị thay thế bằng một hệ thống giáo dục nhằm đào tạo những người nô lệ có ích cho chế độ thuộc địa. Chủ nghĩa thực dân truyền bá trong thanh niên Việt Nam một nền văn hóa nô dịch, mất gốc cùng với những tệ nạn xã hội được khuyến khích như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện, mại dâm... nhằm ngu dân và trụy lạc hóa nhân dân ta, mà trước nhất là thế hệ trẻ.
Thảm trạng này đã được nêu rõ trong nhiều bài viết lên án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam của Nguyễn ái Quốc: "Người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả là sự dốt nát nữa, vì một nền giáo dục như vậy chỉ làm hư hỏng mất tính nết của người đi học... dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình. Nền giáo dục ấy dạy cho thanh thiếu niên khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình. Nó làm cho thanh thiếu niên trở nên ngu ngốc..."
          "Sự thực những người An Nam đã bị họ bắt và đẩy vào chiến tranh làm bia đỡ đạn... 51.000 người An Nam đã bị động viên và đẩy ra mặt trận của nước Pháp, 49.000 người bị đưa đến các nhà máy để sản xuất thiết bị quân sự"
          Mở đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước gắn liền với tên tuổi của nhà chí sĩ Phan Bội Châu (sinh năm 1867), 17 tuổi đã hưởng ứng Chiếu Cần Vương viết bài hịch “Bình Tây thu Bắc” rồi lập đội “Sĩ tử Cần Vương” ở vùng quê nhà Nam Đàn, Nghệ An. Chính Phan Bội Châu là người khởi xướng và trở thành linh hồn của nhiều phong trào yêu nước đầu thế kỷ: Cuộc vận động Duy Tân (1904) kêu gọi hàng trăm thanh thiếu niên tham gia phong trào Đông Du vượt biển sang Nhật Bản (1905), thành lập Việt Nam Quang Phục Hội (1911) rồi thu hút các nhà cách mạng trẻ tuổi sang Trung Quốc thành lập nhóm “Tâm tâm xã” chuẩn bị lực lượng cho những bước chuyển quyết định cho phong trào cách mạng nước ta. Dẫu cho sự nghiệp của Phan Bội Châu không thành nhưng những di sản mà ông đã để lại cho phong trào cách mạng Việt Nam vô cùng quý báu, đó là sự thức tỉnh cả một thế hệ thanh niên mà ông luôn coi trọng như lực lượng sẽ định đoạt tương lai của nước nhà. Ông đã từng viết: "Nếu ai nói rằng: thanh niên lay trời, trời phải rung, thanh niên xoay đất, đất phải chuyển cũng không phải là quá đáng vậy", và khi phát động phong trào Đông Du, Phan Bội Châu đã từng đặt hy vọng chỉ sau vài năm "thì những thiếu niên nước ta sẽ bay nhảy hô vang, khua cá sấu mà chống lại rồng trời, non sông gấm vóc của ta sẽ rực rỡ tốt tươi, uy sấm sét sẽ đuổi hết lũ quỷ ma..."
          Cho đến trước khi công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam tìm ra được con đường và tổ chức cách mạng bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng, các phong trào yêu nước mà lực lượng chủ công vẫn là đông đảo các tầng lớp thanh niên vẫn không ngừng phát triển với nhiều khuynh hướng khác nhau và với nhiều tấm gương nghĩa liệt của những người anh hùng trẻ tuổi.
           Tiếng bom của hai chiến sĩ cảm tử trẻ tuổi của Việt Nam Nam Quang Phục Hội là Nguyễn Khắc Cần và Phạm Văn Tráng tiêu diệt những võ quan Pháp ngay tại Hà Nội năm 1913; một ông vua mới 16 tuổi đã từ bỏ ngai vàng cùng với những chiến sĩ yêu nước như Thái Phiên, Trần Cao Vân phát động cuộc nổi dậy chống Pháp mang danh vương hiệu của mình cũng là lý tưởng của đất nước: Khởi nghĩa Duy Tân năm 1916. Cuộc khởi nghĩa của binh sĩ và tù chính trị nổ ra ở tỉnh lỵ Thái Nguyên năm 1917 có vị thủ lĩnh là Lương Ngọc Quyến, con trai của cụ cử Lương Văn Can, 15 tuổi đã xuất dương Đông Du, 25 tuổi bị giặc bắt và 27 tuổi hy sinh trong khi chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp...
          Các cuộc nổi dậy vũ trang chống Pháp còn đạt tới đỉnh cao bằng một hành động “sát thân thành nhân” của tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng với cuộc khởi nghĩa Yên Bái vào đầu năm 1930. Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng tinh thần chiến đấu quả cảm của những người yêu nước trong sự kiện này, mà phần đông còn rất trẻ trở thành bất diệt: Đảng trưởng Nguyễn Thái Học lúc hy sinh mới 29 tuổi... Thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự tan rã của tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng yêu nước là dấu hiệu của sự kết thúc một giai đoạn đấu tranh cũ để mở ra một thời kỳ cách mạng mới gắn liền với sự kiện ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, xảy ra gần như cùng một lúc vào mùa xuân năm 1930.
            Bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc này gắn liền với tên tuổi của một nhà hoạt động cách mạng vĩ đại: Nguyễn ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh.
          Sinh năm 1890 tại Nghệ An, ở tuổi niên thiếu con người này đã đặt ra câu hỏi:
"Khi tôi độ tuổi 13, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những thứ ấy... và tôi đã vượt biển ra nước ngoài"
            Đó là năm 1911, sau một chặng đường dài đi qua nhiều nước, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều học thuyết, đặc biệt là từ sau khi cách mạng Nga thành công (1917), Nguyễn ái Quốc đã dần nhận ra con đường chính trị của mình cũng là con đường sống của dân tộc Việt Nam. Cuối năm 1920, tại Pháp Nguyễn ái Quốc trở thành một chiến sĩ cộng sản và có những đóng góp to lớn vào việc đưa học thuyết cách mạng này vào trong các tầng lớp trẻ yêu nước.
          Vào thời điểm này, phong trào yêu nước của nhân dân ta vẫn đang tìm kiếm con đường để giành thắng lợi, vai trò thanh niên ngày càng có ý nghĩa trong tiến trình thay thế dần vai trò của lớp sĩ phu của các thế hệ trước. Các nhà nho bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã từng có một tuổi trẻ sôi động xông pha trên mọi nẻo đường cứu nước với chí khí xả thân vì nghĩa lớn như câu thơ:
                            "Quốc khổ trầm luân dân tộc lụy
                            Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn"
                           (Đất nước đắm chìm nòi giống mòn
                          Làm trai há sợ cái Côn Lôn)

                         (Lời dịch của Huỳnh Thúc Kháng)
           Nay cũng cảm thấy bị thời đại vượt qua, và ý thức được rằng tương lai của cách mạng chỉ có thể thuộc về một thế hệ mới mà Nguyễn ái Quốc là tiêu biểu.
            Cùng hoạt động trong phong trào người Việt Nam yêu nước ở Pháp, mặc dầu về tuổi tác cũng như vị thế xã hội Phan Châu Trinh vẫn được Nguyễn ái Quốc coi là bậc tiền bối, song chính Phâu Châu Trinh đã từng thừa nhận:
           "Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu pha nước tế. Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn. Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hôn mê".
          Rồi cụ Phan không ngần ngại mà còn nhận rằng Nguyễn ái Quốc "như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông" và tin rằng "không bao lâu nữa cái chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nước ta". Trước đó hơn một năm, Nguyễn ái Quốc đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin và gia nhập Đảng Cộng sản.
           Trường hợp tương tự cũng xảy ra đối với Phan Bội Châu, người đồng hương cùng lớp với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Sau một hồi hoạt động sôi nổi như linh hồn của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu cũng nếm trải nhiều thất bại phải rời đất Nhật về Trung Quốc. Lúc này, Nguyễn ái Quốc đã trưởng thành trên con đường hoạt động chính trị của mình, đã rời nước Pháp từ giữa năm 1923, qua nước Nga Xô viết rồi từ đó đến Trung Quốc với bí danh là Lý Thuỵ.
            Một lần nữa, ta lại chứng kiến một sự “Chuyển giao thế hệ” trong phong trào cách mạng Việt Nam qua một bức thư cũng không kém phần thống thiết của Phan Bội Châu, lúc này đã 58 tuổi, gửi Lý Thụy (tức Nguyễn ái Quốc) lúc này vừa 35 tuổi. Trong thư, Phan Bội Châu nhận ra rằng Nguyễn ái Quốc "học vấn, tri thức nay đã tăng trưởng quá nhiều".
           "Phan Bội Châu này đâu có ngờ rằng sau này đứa cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này... Và mừng cho đất nước ta. Việc thừa kế nay đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai"
             Trong khi đó, một thế hệ các nhà cách mạng trẻ bước vào cuộc vận động cách mạng sổi nổi. Trong cao trào đấu tranh đòi quyền dân chủ được nhen nhóm từ đầu những năm 20, Nguyễn An Ninh, một nhà hoạt động cách mạng tên tuổi (sinh năm 1900) từ Pháp trở về diễn thuyết tại Hội Khuyến học Nam Kỳ ngày 25-1-1923 về lý tưởng của thanh niên dẫn đến sự hình thành tự phát Thanh niên Cao vọng Đảng trong một số quần chúng nông dân và trí thức Nam Bộ. Và trong không khí sôi động của cuộc vận động đòi ân xá Phan Bội Châu cũng như đám tang Phân Châu Trinh. Trần Huy Liệu, một thanh niên 25 tuổi hô hào thành lập Đảng Thanh niên... với những mục tiêu tranh đấu cho quyền dân chủ.
             Nhưng cũng như Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học được ra đời sau đó ít lâu (25-12-1927). Đảng Thanh Niên cũng như Thanh niên Cao vọng Đảng tuy ban đầu thu hút đông đảo giới trẻ tham gia, nhưng tất cả các tổ chức chính trị đó đều đi vào con đường bế tắc, hoặc tự giải thể hoặc tan vỡ trong một cuộc bạo động non. Những thành viên tiên tiến của các tổ chức này lần lượt chuyển sang hàng ngũ cách mạng của những người cộng sản.
Vào thời điểm lịch sử ấy, Nguyễn ái Quốc đã ý thức được tầm quan trọng của cuộc vận động phong trào thanh niên nhằm thức tỉnh lực lượng quan trọng hàng đầu của phong trào giải phóng dân tộc. Kết thúc tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp", Nguyễn ái Quốc kêu gọi: "Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của người không sớm hồi sinh(2).
           Nguyễn ái Quốc bắt tay vào cuộc vận động cách mạng khởi đầu bằng việc tập hợp những lực lượng thanh niên tiên tiến nhất làm nòng cốt cho sự ra đời của những tổ chức cộng sản, nhân tố quyết định cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những nhân tố tiên phong ấy chính là những đoàn viên thanh niên cộng sản đầu tiên, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như của đội ngũ hậu bị hùng hậu của Đảng là Đoàn Thanh niên.
          Hơn 20 năm sau lời kêu gọi ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết lại chặng đường cách mạng đã qua thành một bài học về sức sống trẻ trung của dân tộc:
           "Dân tộc ta rất trẻ trung, nước nhà ta rất trẻ trung và chúng ta đều trẻ trung. Chúng ta trẻ trung mà chúng ta phải đảm đương hai nhiệm vụ rất vẻ vang, rất to lớn: phá tan những xiềng xích cũ và xây dựng những tương lai mới.
           Chúng ta trẻ trung nhưng chúng ta là những người thừa tự cái truyền thống oanh liệt, quật cường và một cơ đồ gấm vóc của mấy ngàn năm tổ tiên ta để lại. Chúng ta trẻ trung nhưng chúng ta giàu về kinh nghiệm, kinh nghiệm đau xót có, kinh nghiệm vẻ vang có. Do đó mà chúng ta đã có một lực lượng cực kỳ to lớn, vững chắc, lực lượng đại đoàn kết toàn dân. Nhờ truyền thống và lực lượng ấy, thêm vào chí khí trẻ trung của chúng ta, chúng ta đã vượt qua nhiều bước gian nan và giành được nhiều thắng lợi..." (phát biểu vào năm 1948).

       CHƯƠNG I
 NGUYẾN ÁI QUỐC VÀ TỔ CHỨC VIỆT NAM THANH NIÊN  CÁCH MẠNG ĐỒNG CHÍ HỘI VỚI QUÁ  TRÌNH CHUẨN BỊ THÀNH LẬP ĐOÀN
          Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chính sách bóc lột hết sức tàn bạo nhằm vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam. Trong thân phận người dân mất nước, cũng như cha anh mình, tuổi trẻ Việt Nam hồi đầu thế kỷ phải sống dưới gông cùm nô lệ. ở mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, thanh niên là lực lượng lao động chủ yếu và là lớp người bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Báo cáo ngày 17-7-1928 của Đơ Lama gửi cho Phủ toàn quyền Đông Dương về tình hình “cu li” ở đồn điền cao su Michelin (Nam Kỳ) có đoạn viết:
          “Một đứa tên là Trần Văn Chung 20 tuổi mang trên vai 8 cái sẹo của đầu gậy bổ sâu vào thịt. Một đứa khác tên là Vũ Viết Thu 21 tuổi mang trên vai 50 vết roi cá đuối”.
           Các tầng lớp thanh niên khác, nhất là thanh niên nông dân đều cùng chung cảnh ngộ bị đọa đầy dưới ách thực dân, phong kiến. Không thể cam chịu mãi cảnh sống cơ cực nước mất, nhà tan, các phong trào yêu nước của nhân dân và thanh niên ta không ngừng phát triển ngày càng mạnh mẽ làm cho kẻ thù lo sợ và điên cuồng đối phó.
           Song, trước sau do thiếu một đường lối đúng đắn, một tổ chức chặt chẽ nên cuối cùng các phong trào đấu tranh bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tình trạng khủng hoảng về lãnh đạo đòi hỏi phải được giải quyết để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đúng vào thời điểm này, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau lấy tên là Nguyễn ái Quốc đã mở đầu cuộc hành trình hết sức quả cảm và gian lao tìm đường cứu nước, cứu dân...
           Giữa năm 1911, ở tuổi 20, Nguyễn ái Quốc xuống tàu Latusơ Tơrêvin tại cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) đi ra nước ngoài với ý thức tìm hiểu nước Pháp và các nước khác làm thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường rồi sẽ “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức, đoàn kết và huấn luyện để đưa họ đấu tranh giành quyền tự do, độc lập”. Nguyễn ái Quốc đã đến Pháp, đi qua nhiều nước châu Phi, đến Mỹ, Anh,v.v... và trở lại Pháp vào cuối năm 1917 lúc chiến tranh thế giời lần thứ nhất ở vào giai đoạn quyết liệt nhất.
         Tại Paris, Người kết bạn với nhiều nhà hoạt động chính trị xã hội, văn hóa có uy tín lớn của nước Pháp. Người viết nhiều bài báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa, tranh thủ mọi diễn đàn, những buổi hội họp, mít tinh, sinh hoạt câu lạc bộ để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia và các nước thuộc địa khác.
           Với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn ái Quốc sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính (thực dân Pháp đã bắt hơn 10 vạn thanh niên nông dân, công nhân sang phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất tại Pháp) và sinh viên... Nhóm hoạt động mạnh mẽ làm cho giới cầm quyền Pháp rất lo ngại. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm phát triển khá mạnh. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chân thành mời hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tham gia hoạt động của “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” song cơ bản cả hai ông không tán thành: “Vì các ông cho nhóm thanh niên ấy là trẻ con”
           Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Hội nghị Vécxây (Versailles) họp tại Thủ đô Paris giữa các nước thắng trận vào ngày 18-6-1919. Nguyễn ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp đưa tới hội nghị bản yêu sách đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách này được gửi đến các đoàn đại biểu Đồng minh và tất cả các nghị viện của Quốc hội Pháp. Báo “Nhân đạo” (L’Humanité) và nhiều nhật báo khác ở Pháp đã đăng nguyên văn hoặc trích ngang bản yêu sách chính trị quan trọng này. Nguyễn ái Quốc cùng những đồng chí của Người đã cho in bản yêu sách thành truyền đơn gửi về trong nước. Dư luận ở Paris cũng như ở Pháp coi việc làm của người thanh niên yêu nước Nguyễn ái Quốc như là quả bom chính trị nổ ngay giữa Paris.
           Tháng 7-1920, Nguyễn ái Quốc biết bao sung sướng, vui mừng được đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin, khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba.
          Tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (Tours -12-1920) Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, và cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản aise de I’Internationale communiste, viết tắt là S.F.I.C). Sự kiện(Section Fran Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Sự kiện này cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam.
          Năm 1921, tại Paris, Nguyễn ái Quốc cùng một số đồng chí của Người lại sáng lập ra “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân, thông qua tổ chức này đưa chủ nghĩa Mác-Lênin đến các dân tộc thuộc địa.
           Thành viên trong tổ chức “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” cũng bao gồm tuyệt đại bộ phận là thanh niên giống như “Nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Điều này về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định khi nhắc lại quá trình hình thành của Hội: ... “Hơn 40 năm trước đây, một nhóm thanh niên yêu nước, người các thuộc địa Pháp, trong đó có thanh niên Việt Nam và thanh niên Ghinê, đã cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, để giành tự do, độc lập cho đất nước mình...”
             Đây chính là loại hình Quốc tế thanh niên thuộc địa theo quan điểm của Lênin mà Nguyễn ái Quốc bước đầu bắt tay thực hiện. Qua việc sáng lập các tổ chức mà đại bộ phận thành viên là những người yêu nước trẻ tuổi Việt Nam và các thuộc địa Pháp đã giúp Nguyễn ái Quốc sớm hình thành những quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá các khả năng cách mạng của tuổi trẻ cũng như hình thức, phương pháp đoàn kết, tập họp họ. Đây là một trong nhiều hoạt động của Nguyễn ái Quốc trong phong trào thanh niên hồi đầu thế kỷ.
           Thực tiễn phong phú này tạo điều kiện cho Người rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về vận động thanh niên các nước thuộc địa.
           Báo “Người cùng khổ” (Le Paria) do Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã cất lên tiếng nói đầu tiên vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp ở Đông Dương, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, trước hết là thanh niên tiểu tư sản, trí thức yêu nước hăng hái đứng lên đấu tranh để tự giải phóng.
Mùa hè năm 1923, đồng chí Nguyễn ái Quốc đến Liên Xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười và V.I.Lênin vĩ đại. Tại Mátxcơva, Người tham gia nhiều đại pab ga) vàhội và hội nghị quốc tế; viết nhiều bài đăng trên các báo “Sự thật” ( “Thư tín quốc tế” (Correspondance internationale).
           Ngày 17-6-1924, Nguyễn ái Quốc là đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V khai diễn tại Nhà hát lớn Mátxcơva.
          Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên Cộng sản tại Đại hội đã liên hệ với Nguyễn ái Quốc và chính thức mời Người tham gia công việc chuẩn bị nội dung cho Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV sẽ họp vào thời gian sau đó. Từ khi còn hoạt động ở Pháp, Nguyễn ái Quốc đã có mối quan hệ với Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Người đã đến Hội trường Thanh niên Cộng hòa ở Paris để giới thiệu về phong trào thanh niên thế giới, phong trào thanh niên Đông Dương và các chủ trương của Quốc tế Thanh niên Cộng sản được người nghe rất hoan nghênh.
            Ngày 15-7-1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV đã khai mạc tại Hội trường Công đoàn ở Mátxcơva. Đại hội được tiến hành khi Lênin qua đời vừa được sáu tháng.
Những phần tử cơ hội và phản động Quốc tế cấu kết với các giới đế quốc điên cuồng mở rộng tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Lênin và học thuyết cách mạng của Người. Phong trào Thanh niên cộng sản Quốc tế đứng trước nhiệm vụ cấp bách là đẩy lùi và đập tan những luận điệu lừa bịp ấy nhằm tiếp tục tranh thủ trái tim và khối óc của hàng triệu thanh niên cộng sản trong đó có phong trào thanh niên cộng sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.
            Trong bối cảnh đó, Đại hội IV Quốc tế Thanh niên Cộng sản có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thực hiện di huấn của V.I.Lênin vĩ đại: “Sự nghiệp to lớn và tất yếu của các đồng chí là chuẩn bị cho tuổi trẻ sẵn sàng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng và trong việc học tập”.
             Là người đại diện ưu tú của các dân tộc bị áp bức, ngay trước khi tham dự Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Nguyễn ái Quốc đã đề nghị với Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản về việc thành lập “Nhóm châu á” tại Trường Đại học Phương Đông nhằm tạo điều kiện cho thanh niên, học viên có cơ hội nghiên cứu tình hình, đặc điểm của các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Là thành viên trong đoàn Chủ tịch trực tiếp lãnh đạo Đại hội, bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã trải qua, nhất là sự hiểu biết sâu rộng về tình cảnh thanh niên các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã có những đóng góp quan trọng vào việc soạn thảo hàng loạt văn kiện của Đại hội.
             Đặc biệt, Nguyễn ái Quốc là người chủ trì và là tác giả chính trong nhóm tác giả soạn thảo “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nổi tiếng theo tư tưởng của Lênin Người đã trực tiếp trình bày văn kiện hết sức quan trọng này tại Đại hội và được Đại hội nhất trí thông qua. Luận cương mở đầu bằng việc đánh giá và khẳng định rằng từ năm 1919 đến năm 1924, phong trào thanh niên thuộc địa đã có những chuyển biến mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Quốc tế Cộng sản và được ảnh hưởng của Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga. Năm 1919 là thời điểm V.I. Lênin sáng lập ra Quốc tế Thanh niên cộng sản và Nguyễn ái Quốc đã may mắn sớm có mối liên hệ với tổ chức này như trên đã nêu. Luận cương nhận định rằng thanh niên các thuộc địa đã dần dần hướng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Họ đi theo ngọn cờ của Lênin vì họ tìm thấy ánh sáng soi đường trong Luận cương về vấn đề dân tộc nổi tiếng của Người.
            Tiếp đến, “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nêu lên yêu cầu cấp bách phải tổ chức, tập họp lực lượng thanh niên cách mạng và xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản ở các thuộc địa. Đây là mâu thuẫn gay gắt nổi lên trong những năm đầu thế kỷ ở các thuộc địa giữa đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và những khả năng để giải quyết những nhiệm vụ đó. Vấn đề “Thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức” mà sau này vào năm 1925 trong “Thư gửi thanh niên An Nam” đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ là tình hình chung của nhiều nước thuộc địa khác trên thế giới chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. “Luận cương về thanh niên thuộc địa” đặt ra yêu cầu khẩn thiết về việc hình thành các đoàn thể thanh niên cách mạng và tiến tới xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở thuộc địa là nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên.
            Cuối cùng “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nhấn mạnh việc tăng cường mối liên hệ giữa các tổ chức thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản ở các thuộc địa với tổ chức thanh niên cộng sản ở chính quốc.
           Luận cương vạch ra những công việc cụ thể về giúp đỡ vật chất, tinh thần của các tổ chức TNCS chính quốc với các tổ chức TNCS ở thuộc địa.
          Nghiên cứu toàn bộ “Luận cương về thanh niên thuộc địa” do đồng chí Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo Đại hội lần thứ IV Quốc tế TNCS (1924) chúng ta tìm thấy nhiều ý tưởng, quan điểm về vấn đề thanh niên thuộc địa mà trước đó đồng chí Nguyễn ái Quốc đã nhiều lần đề cấp đến trong các bài viết của Người trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp hoặc trong các cuộc tranh luận nội bộ về các vấn đề có liên hệ đến trách nhiệm của Đảng đối với phong trào thuộc địa cũng như các bài viết của Nga đăng trên tạp chí “Thư tín quốc tế’ của Quốc tế Cộng sản” và báo “Sự thật” của Đảng Cộng sản Liên Xô.
         Luận cương về thanh niên thuộc địa đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản và chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể về tổ chức, giáo dục và hướng dẫn cuộc đấu tranh vì những mục tiêu độc lập, tự do, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc của thanh niên các nước thuộc địa.
Luận cương vừa có giá trị như một cương lĩnh chính trị vừa như một chương trình hành động phù hợp với tình hình, nguyện vọng của hàng chục triệu thanh niên đang bị áp bức, đọa đày do chính sách và những hành động tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết phong kiến bản địa.
          Giữa năm 1925, nghĩa là chỉ hơn một năm sau khi “Luận cương về thanh niên thuộc địa” được nhất trí thông qua tại Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, tác giả của văn kiện nổi tiếng này - đồng chí Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của dân tộc và giai cấp công nhân Việt Nam đã triển khai thắng lợi chủ trương xây dựng một tổ chức thanh niên cách mạng ở Việt Nam một nước thuộc địa của Pháp là “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, một tổ chức bao gồm phần lớn là thành viên trẻ tuổi theo xu hướng cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
          Trong những năm tháng Nguyễn ái Quốc sống và hoạt động ở Liên Xô (1923-1924) cũng là lúc phong trào cách mạng ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Quảng Châu là trung tâm cách mạng của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Quảng Châu trở thành địa bàn quan trọng cho hoạt động của nhiều nhà cách mạng Việt Nam và những nhà yêu nước Triều Tiên, Inđônêsia, Miến Điện. Nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam xuất dương vào đầu những năm 20 cũng đã đến đây và được tập hợp lại trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Đầu năm 1924 Phạm Hồng Thái sang Quảng Châu và gia nhập Tâm Tâm Xã. Tháng 6-1924, Phạm Hồng Thái thực hiện nhiệm vụ ném tạc đạn nhằm mưu sát tên toàn quyền Méclanh (Merlin) nhân dịp y đi công cán qua Quảng Châu.
          Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc lanh của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành công “nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”, là hiệu kèn thúc giục nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam dấn thân trên con đường tranh đấu.
          Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Hàng chục vạn thanh niên thuộc đủ các tầng lớp trong cả nước đã sôi sục đấu tranh đòi bọn cầm quyền ở Đông Dương phải thả cụ. Năm 1925, cụ Phan Chu Trinh mất, hơn 140 ngàn người trong đó có hàng vạn thanh niên, học sinh đã tập hợp ở Sài Gòn để đưa đám tang cụ. Đây là một cuộc biểu dương lực lượng rất to lớn có ảnh hưởng rất rộng trong cả nước, nhất là đối với phong trào thanh niên. Nguyễn ái Quốc, ngay thời gian đó đã nêu rõ: “Chưa bao giờ có một phong trào quần chúng rộng rãi như vậy”. Đây là một dịp rất tốt cho Nguyễn ái Quốc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, cổ vũ đấu tranh cách mạng.
           Trong phong trào đấu tranh của quần chúng, hàng loạt tổ chức yêu nước do những người trẻ tuổi sáng lập ra đời. Năm 1925, nhóm sinh viên cao đẳng Hà Nội gồm 17 người, trong đó có Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều... cùng với một số thầy giáo trẻ ở miền Trung nhóm họp tại Vinh và quyết định thành lập “Hội Phục Việt” sau này là “Tân Việt”. Tháng 3 năm 1926, một số thanh niên trí thức ở Nam Bộ trong đó có Trần Huy Liệu, lập ra “Đảng Thanh niên”. Giữa năm 1926, nhà yêu nước trẻ tuổi Nguyễn An Ninh tập hợp một số thanh niên viên chức, thầy giáo yêu nước vào tổ chức “Thanh niên Cao Vọng”. Những tổ chức thanh niên yêu nước nói trên hoạt động rất hăng hái, như “Hội Phục Việt” đã vận động hội viên tham gia cuộc đấu tranh đòi thả cụ Pham Bội Châu với nhiều hình thức phong phú. “Đảng thanh niên hô hào thanh niên biến cuộc đưa đám cụ Phan Chu Trinh thành cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng.
          Vào thời gian có nhiều sự kiện đặc biệt đó, sau khi dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) với trách nhiệm nặng nền đối với phong trào cách mạng ở Đông Dương và châu á. Người đã khẩn trương tìm hiểu tình hình và tìm cách bắt liên lạc với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại đây qua sự giúp đỡ một phần của phái đoàn cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.
         Liên tiếp trong 2 ngày 18 và 19-12-1924, Nguyễn ái Quốc gửi thư và báo cáo cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, trong đó Người đánh giá cao tinh thần cách mạng của số thanh niên yêu nước mà Người đã tiếp xúc.
          Từ tháng 12 năm 1924 cho đến tháng 2 năm 1925 là thời gian Nguyễn ái Quốc làm việc mật thiết với nhóm thanh niên trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Người đã thẳng thắn nêu lên những thiếu sót trong nhận thức, hành động của nhóm này và tỏ rõ sự khâm phục tinh thần yêu nước của các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi như trường hợp Phạm Hồng Thái. Dưới hình thức những lớp bồi dưỡng nhỏ, phân tán, Nguyễn ái Quốc đã giới thiệu với anh em về Cách mạng Tháng Mười Nga, về Quốc tế Cộng sản, về chủ nghĩa xã hội khoa học, về học thuyết Mác - Lênin. Tác dụng của các lớp học đầu tiên này đối với số thanh niên đang khát khao lý tưởng thật là to lớn. Kết luận mà Nguyễn ái Quốc rút ra cho các học trò của Người là muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải dựa vào quần chúng nhân dân, nhất là công nhân, nông dân, phải có một Đảng tiên phong theo chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo.
           Với lý luận sắc bén, kinh nghiệm phong phú, tác phong cởi mở, Nguyễn ái Quốc đã tạo nên niềm tin mạnh mẽ cho số thanh niên yêu nước và đưa dần họ đến với chân lý cách mạng.
Lúc này Nguyễn ái Quốc chủ trương tổ chức một nhóm bí mật. Tuy về quy mô chỉ là nhóm đầu tiên nhưng có đầy đủ Chương trình, Điều lệ...
          Hoàn thành xong nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử này, ngày 19-2-1925, Nguyễn ái Quốc đã gửi báo cáo tới Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Trong mục “Công tác đã làm được”, Nguyễn ái Quốc viết: “Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 thành viên, trong đó có:
- 2 người đã được phái về nước.
- 3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).
- 1 người đi công cán quân sự (cho Quốc dân đảng).
Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.
Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của “Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin”.
          Nhóm bí mật 9 người do Nguyễn ái Quốc xây dựng là cái mầm non của một tổ chức cộng sản mà Người đã ấp ủ trong kế hoạch tổ chức từ sau khi tham dự đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V và Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV.
          Con đường truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin vào giai cấp công nhân và nhân dân yêu nước Việt Nam mà Nguyễn ái Quốc đã thực hiện lúc đó là dựa vào thanh niên, lớp người trẻ tuổi có lòng yêu nước, căm thù giặc, hăng hái cách mạng, nhạy cảm với cái mới, có học thức, được học tập lý luận giải phóng dân tộc và phương pháp tổ chức nhân dân do chính Người đào tạo.
           Chính từ kết quả đầu tiên bằng tư duy rất sáng tạo và tài tổ chức của mình, Nguyễn ái Quốc đã yêu cầu Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản cho “gửi sinh viên Việt Nam sang học Trường Đại học Cộng sản ở Mátxcơva” và nói rõ hơn cho tôi biết “là có thể gửi bao nhiêu sinh viên Việt Nam sang”.
          Sự ra đời của nhóm cách mạng trẻ tuổi 9 người tuy còn quá nhỏ bé trên con đường dài dựng Đảng, dựng Đoàn nhưng đó là thời điểm khai sinh ra một thế hệ thanh niên mới với xu hướng làm cho thực dân Pháp và bọn cai trị run sợ. Toàn quyền Đông Dương Méclanh đầu năm 1925 gửi báo cáo về Bộ thuộc địa Pháp nói: “Xuất hiện ở Quảng Châu một người cách mạng Việt Nam tên là Lý Thụy hoạt động rất tích cực trong số những người Việt Nam tại đây và dùng những biện pháp tuyên truyền kiểu mới có xu hướng cộng sản”
           Việc ra đời nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên này là sự kiện đặc biệt quan trọng mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa cũng như sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta sau này.
         Đối với phong trào thanh niên cộng sản quốc tế, sự xuất hiện nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên vào đầu năm 1925 đã góp phần minh chứng tính đúng đắn của Luận cương về thanh niên thuộc địa do Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo như trên đã nêu.
Từ nhóm bí mật 9 người, chỉ trong vòng hơn 4 tháng sau các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi dưới sự hướng dẫn của Nguyễn ái Quốc vừa lo tổ chức, huấn luyện, bồi dưỡng cho những thanh niên ở trong nước ra, vừa lo chuẩn bị chương trình điều lệ,v.v... để đến tháng 6-1925, Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí (từ sau năm 2000 tên Hội được gọi là Hội Việt Nam cách mạng thanh niên) chính thức tuyên bố thành lập và bắt đầu mở rộng các hoạt động tạo ra bước ngoặt quan trọng trong phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên ta.
          Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí ngay từ khi mới thành lập đã lo đặt viên đá đầu tiên để chuẩn bị cho tổ chức thanh niên sau này.
          Do việc tích cực phát triển Đoàn nên từ đầu năm 1925 đến năm 1926, số đoàn viên, từ một nhóm nhỏ vài ba đồng chí đã tăng lên 25 đồng chí.
         Lớp đoàn viên thanh niên cộng sản đầu tiên này phần lớn trở về nước hoạt động như trường hợp Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba... một số khác được phân công học tiếp tại các lớp đào tạo cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô và học quân sự ở Trường Hoàng Phố (Quảng Châu).
          Tuân theo di huấn của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, Nguyễn ái Quốc lần lượt mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu. Mục đích học tập là “Học làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân”(2).
           Nguyễn ái Quốc cùng với các cộng sự đắc lực của Người như các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn,v.v... đã mở liên tiếp các lớp huấn luyện thu hút khá đông thanh niên yêu nước các miền Bắc, Trung, Nam sang Quảng Châu học tập.
         Theo báo cáo của Nguyễn ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, từ năm 1924 đến năm 1927, Người đã mở được ba khóa huấn luyện cho 75 người, xuất bản được 3 tờ báo nhỏ. Đây là vốn quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Hy vọng tuyệt đại bộ phận được trở về Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Nam Kỳ về Xiêm để hoạt động, tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những học viên được cử phụ trách các cơ sở Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở các tỉnh phía Nam nước ta.
           Học viên tuy là những người có trình độ văn hóa (phần lớn là học sinh và giáo viên) nhưng còn hết sức bỡ ngỡ với biết bao khái niệm chính trị, triết học... mà họ chưa hề biết đến...
Tất cả những điều mới mẻ trên có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với lớp thanh niên đang khát khao lý tưởng, khát khao tìm đường cứu nước, cứu dân. Họ hấp thụ chân lý chủ nghĩa Mác - Lênin như hấp thụ ánh sáng mặt trời.
Đối với công tác thanh niên, học viên được nghe giới thiệu về Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Đây là đường lối công tác thanh niên theo chủ nghĩa Mác - Lênin lần đầu tiên được truyền bá vào Việt Nam.
          Các bài giảng của Nguyễn ái Quốc tại các lớp huấn luyện thanh niên yêu nước ở Quảng Châu đã được tập hợp và in thành sách với tên chung là “Đường kách mệnh”.
         “Đường kách mệnh” trở thành vũ khí chiến đấu của những người cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ nhằm chống lại mọi trào lưu tư tưởng phi vô sản và cơ hội chủ nghĩa trong và ngoài nước.
          Với yêu cầu đào tạo lúc bấy giờ. “Đường kách mệnh” không chỉ nêu lên những vấn đề thuộc chủ nghĩa, đường lối, sách lược mà còn hướng dẫn công việc tổ chức, tuyên truyền rất cụ thể để mỗi học viên sau khi học xong có thể bắt tay thực hành.
Bài học đầu tiên mà học viên được nghe giảng là tư cách một người cách mạng trong đó nêu lên 3 mối quan hệ của người cách mạng: “Đối với bản thân, đối với mọi người và đối với công việc”.
          Trong cuộc chiến đấu quyết liệt mất còn với kẻ thù vấn đề đặt ra đối với những người cách mạng, đặc biệt là đối với lớp thanh niên chưa trải qua nhiều thử thách thì bên cạnh việc bồi dưỡng về trí thức cách mạng cần đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng về đạo đức và phẩm chất cách mạng ấy chính là ý nghĩa của bài học đầu tiên này.
           Cùng với việc mở Trường đào tạo cán bộ thanh niên tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã liên hệ với Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Thanh niên Cộng sản để gửi một số thanh niên Việt Nam đến học ở khoa đào tạo cán bộ Đoàn của trường Đảng Liên Xô.
         Đồng chí Nguyễn ái Quốc cũng đã trực tiếp gửi thư cho Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị đào tạo theo chương trình lâu dài một số thiếu niên Việt Nam thành cán bộ Đoàn sau này. Bức thư đề ngày 22-7-1926 có đoạn viết: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu-Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm... chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam”. Đề nghị trên đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản Lênin đáp ứng một cách nồng nhiệt, tuy nhiên do tình hình chính trị ở Quảng Châu diễn biến xấu nên chủ trương gửi các cháu thiếu niên nói trên đi đào tạo ở Mátxcơva không thực hiện được.
           Cùng với sự ra đời của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội một tờ báo lấy tên là “Thanh Niên”, phục vụ cho đối tượng chính là thanh niên, với tư cách là cơ quan ngôn luận của Hội phát hành số đầu tiên vào ngày 21-6-1925.
          Người phụ trách trực tiếp và cũng là người viết nhiều bài cho báo là Nguyễn ái Quốc. Đây là tờ báo tiếp nối sự nghiệp của báo Le Paria (Người cùng Khổ) trong điều kiện mới với đối tượng mới. Báo “Thanh Niên” in khổ nhỏ (13x19) mỗi kỳ ra 100 bản, mỗi bản 2 trang đặc biệt có số 4 trang, báo viết bằng tiếng Việt(2).
          Về nội dung, báo “Thanh Niên” có các loại bài xã luận, bình luận, truyện lịch sử thế giới, truyện lịch sử dân tộc và tin tức, đặc biệt có thêm việc hướng dẫn tổ chức các đoàn thể, kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới và giới thiệu về những thành tựu của Liên Xô.
Nhìn lại các bài viết trên báo “Thanh Niên”, chúng ta thấy rõ mục đích của báo là:
         Phát động lòng yêu nước, căm thù giặc đặc biệt là đối với thanh niên, bồi dưỡng quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để giành lại độc lập, tự do cho đất nước.
          Giới thiệu kinh nghiệm lịch sử, nhất là kinh nghiệm các cuộc vận động cách mạng ở nhiều nước để vận dụng vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, giới thiệu về chủ nghĩa cộng sản và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như những vấn đề chủ yếu về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam.
         Từng bước lý giải về sự cần thiết phải thành lập một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin; giáo dục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tuổi trẻ trước yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc và giai cấp.
         Với lối viết giản dị nhưng chứa đựng tinh thần tố cáo và cổ vũ sâu sắc, báo “Thanh Niên” kêu gọi nhân dân và tuổi trẻ đứng lên đấu tranh.
         Về mức độ phổ biến của báo “Thanh Niên” tuy gặp nhiều khó khăn nhưng những cơ sở của Việt Nam cách mạng đồng chí Hội đã cố gắng giới thiệu báo “Thanh Niên” cho hội viên và những người cảm tình với Hội đọc. Các đầu mối tiếp nhận báo ở trong nước lúc đó là Cảng Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định,v.v... và một số cơ sở ở Sài Gòn (nhật báo “Thanh Niên” qua đường từ Băng Cốc đưa về).
         Tên mật thám cáo già Lui Mácti đã nhận xét khái quát qua 88 số báo “Thanh Niên” mà y có như sau: “Trong số báo đầu tiên, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh trước hết sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại cho một tập thể, nhấn mạnh đến lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy thu được. Nguyễn ái Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng cho tính khí người An Nam. Tiếp đó, dần dà ông cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử An Nam và các trào lưu tư tưởng nước ngoài, và lịch sử các cường quốc thế giới,v.v... Rồi lần lượt ông đưa ra từng thuật ngữ Hán-Việt tương ứng với một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và nêu ra một định nghĩa rõ ràng, chính xác về mặt thuật ngữ ấy. Từng bước lúc đầu còn ít và về sau thường xuyên hơn, ông công bố một câu hoặc một bài báo ngắn, thông báo cho độc giả biết sự tồn tại của Liên Xô và hạnh phúc mà nhân dân Xô Viết đã được hưởng. Nguyễn ái Quốc cũng không ngần ngại dành đến 60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả, ít khi ông nói rõ ý đồ của mình khi ông viết: “Chỉ có Đảng cộng sản mới có thể đảm bảo hạnh phúc cho An Nam”.
          Và chính Lui Mácti cũng thấy rõ rằng báo “Thanh Niên” có sức hấp dẫn thanh niên, chẳng những họ đọc mà còn chép lại để chuyển cho người khác đọc.
Báo “Thanh Niên” thực sự đã góp phần đắc lực vào việc chuẩn bị về tư tưởng, lý luận và tổ chức cho việc thành lập Đoàn, thành lập Đảng.
                                                                     *
                                                                   *    *
           Từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phong trào đấu tranh của quần chúng công nông và thanh niên, học sinh đã phát triển lên một bước mới dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí. Chính từ phong trào đấu tranh đó mà Hội đã có bước phát triển mới về tổ chức, cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống tổ chức 5 cấp từ Trung ương Hội đến cơ sở đã xây dựng hoàn chỉnh. Hội có 1.700 hội viên và hàng nghìn người có cảm tình với Hội.
         Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ: “Những cuộc bãi công trong năm 1928-1929... đã chứng tỏ rằng sự tranh đấu của giai cấp ở Đông Dương ngày càng rộng khắp. Điều đặc biệt và quan trọng của phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự tranh đấu của quần chúng công nông có tính chất độc lập rất rõ rệt, chứ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như lúc trước nữa”.
          Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí đã ý thức được rằng cách mạng không phải chỉ dừng lại ở chỗ tuyên truyền đường lối mà phải vận động quần chúng thực hiện đường lối và lấy công nông làm gốc cách mạng. Hội đã cố gắng đưa hội viên của mình đi vào công nông bằng cuộc vận động “Vô sản hóa”.
          Từ giữa năm 1929 trở đi, có thể nói làn sóng đấu tranh của công nhân trong cả nước ta ngày một dâng cao, là lực lượng xung kích đi đầu đấu tranh chống địch bất chấp mọi hành động khủng bố tàn bạo của đế quốc và phong kiến.
          Cùng với phong trào đấu tranh của thanh niên công nhân, các phong trào đấu tranh của thanh niên nông dân, thanh niên học sinh cũng được Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí quan tâm lãnh đạo. ở nông thôn, Hội vận động thanh niên bài trừ hủ tục, chống phù thu lạm bổ, vạch mặt bọn quan lại địa phương. Đặc biệt Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí đã đấu tranh mạnh mẽ chống chính sách mộ phu của bọn tư bản, thực dân.
          Cuối năm 1928, trong khi đang có sự tranh luận về vấn đề thành lập Đảng Cộng sản thì các đồng chí trong Kỳ bộ Thanh niên cách mạng đồng chí Hội Bắc Kỳ rất vui mừng nhận được bản “Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa” của đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản. Văn kiện quan trọng này chỉ rõ nhiệm vụ, tính chất, lực lượng cách mạng và vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa làm sáng tỏ những vấn đề đang được thảo luận, nhất là vấn đề đánh giá vai trò của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa từ sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V. Văn kiện này cũng đã đề cập mạnh mẽ vấn đề thanh niên thuộc địa từ sau Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV như sau:
         “Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản yêu cầu các Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa phải chú trọng vấn đề xây dựng và phát triển phong trào thanh niên cộng sản và đấu tranh chống lại những quan điểm lạc hậu trong giai cấp công nhân cũng như trong các tổ chức công hội thường thiếu quan tâm đến những quyền lợi của thanh niên công nhân và không chú trọng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm làm cho tình cảnh của những thanh niên bị bóc lột được khá hơn.
         Trước yêu cầu cấp bách của phong trào và sau một quá trình đấu tranh, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam ra đời vào tháng 3-1929 tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) đến tháng 6-1929 thì Đông Dương cộng sản Đảng ra đời. Tiếp sau đó là An Nam Cộng sản Đảng ra đời ở Nam Kỳ và Đông Dương Cộng sản liên đoàn ra đời ở Trung Kỳ. Năm 1930, Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản chủ trì cuộc họp thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
          Trước năm 1929 đã có một số đoàn viên thanh niên cộng sản do các cán bộ của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội” vốn là đoàn viên thanh niên cộng sản được kết nạp ở Quảng Châu về nước trực tiếp tuyên truyền và tổ chức, nhưng các đồng chí đoàn viên này chưa được tổ chức vào các tổ chức cơ sở của Đoàn mà hoạt động trong mối quan hệ trực tiếp với các cán bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Chỉ từ sau khi các tổ chức Đảng ở nước ta hình thành, nhất là từ sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ ra đời thì các tổ chức Đoàn cơ sở mới được thành lập.
           Tháng 6-1929, hai chi bộ Đoàn thanh niên cộng sản được thành lập ở Hải Phòng trong phong trào đấu tranh rộng lớn của các quần chúng. Chi bộ Đoàn thứ nhất ra đời ở Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Chi bộ Đoàn Nhà máy Xi măng Hải Phòng được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, một học viên của Trường Chính trị Quảng Châu do đồng chí Nguyễn ái Quốc đào tạo. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh thường cùng lao động với thanh niên công nhân của nhà máy, đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh của họ, tuyên truyền giác ngộ họ rồi chọn lọc một số thanh niên ưu tú kết nạp vào Đoàn. Chi bộ Đoàn ra tờ báo lấy tên “Tia lửa”, bí mật phân phát trong nhà máy để giáo dục và tập hợp thanh niên. Chi bộ Đoàn đã có sáng kiến lập một số đội bóng đá và thường đứng ra tổ chức các trận đấu giao hữu ở bãi xi măng đen. Một số nhóm đọc sách do chi bộ Đoàn đứng ra thành lập thu hút khá đông thanh niên tham gia. Ngày 7-11-1929, để kỷ niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, chi bộ Đoàn đã tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa liềm trong nhà máy, ngoài ra còn tổ chức kể chuyện về Liên Xô qua những tài liệu thu thập trong sách báo cho đoàn viên và những thanh niên cảm tình với Đoàn nghe.
          Cuối năm 1929, chi bộ Đoàn đã tích cực tham gia và trở thành lực lượng xung kích thực hiện chỉ thị của nhà máy đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố của đế quốc.
Chi bộ Đoàn thứ hai ra đời ở Trường Bônan (nay là trường Ngô Quyền) là nơi có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của học sinh trong những năm 1925, 1926 và các năm sau. Chi bộ Đoàn có 11 đoàn viên, chia thành các tiểu tổ trong đó có một số học sinh ở trường khác. Chi bộ Đoàn Trường Bônan do Bùi Đức Thanh làm bí thư. Chi bộ Đoàn có tờ báo in thạch lấy tên là “Thanh niên cộng sản” để giáo dục và tập hợp thanh niên học sinh. Các đoàn viên thanh niên cộng sản ở Trường Bônan hoạt động rất tích cực, nhất là trong công tác tuyên truyền cách mạng, vận động thanh niên đấu tranh. Có tháng, chi bộ Đoàn đã cho ra ba số “Thanh niên cộng sản” nhằm đáp ứng nguyện vọng muốn hiểu biết của thanh niên. Chi bộ Đoàn thanh niên cộng sản Trường Bônan đã giúp anh chị em học sinh tổ chức ra “Học sinh đoàn” để thu hút những học sinh có tinh thần yêu nước, hăng hái hoạt động cách mạng. Lớp học sinh đoàn đầu tiên gồm có Lê Viêm, Vũ Thiện Tấn, Nguyễn Văn Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh Tổng Bí thư Trung ương Đảng khóa VI). Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một học sinh yêu nước, hoạt động rất hăng hái đã bị đế quốc Pháp đày ra Côn Đảo. Nhưng chính tại đây trong chế độ lao tù vô cùng khắc nghiệt, đồng chí đã cùng với nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam khác anh dũng biến nhà tù thành trường học, rèn luyện ý chí cách mạng. Đồng chí đã trở thành người đảng viên đấu tranh kiên cường vì lý tưởng của Đảng.
         Khoảng tháng 10-1929, tại Hà Nội một nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản đã được hình thành tại ga Hàng Cỏ trong đó có đoàn viên Long 21 tuổi là thợ cơ khí. Nhóm này do Lê Văn Nhuận (tức đồng chí Lê Duẩn) lúc ấy hoạt động trong Sở Hỏa xa Bắc Đông Dương giác ngộ và kết nạp.
         Nhiệm vụ của nhóm đoàn viên này dưới sự hướng dẫn của đồng chí Lê Duẩn là tuyên truyền cách mạng trong thanh niên giúp việc liên lạc cho Đảng, phát hành báo “Búa liềm” đi các tỉnh. Nhân kỷ niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm đó (7-11-1929) nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản ga Hàng Cỏ đã chuyển nhiều truyền đơn của Thành ủy lâm thời Hà Nội về các tỉnh.
          Cùng thời gian trên, nhiều cơ sở “sinh hội” bí mật xuất hiện trong một số trường hợp ở Hà Nội như các trường Sinh Từ, Đỗ Hữu Vị, Trần Nhật Duật, Mạc Đĩnh Chi... Tháng 9 - 1929, Tổng Hội sinh viên ra đời ở Hà Nội và xuất bản báo “Người sinh viên” do Đặng Xuân Khu (tức đồng chí Trường Chinh) phụ trách. Nhiều bài báo hay có tác dụng cổ vũ sinh viên đứng lên cùng nhân dân đánh đuổi đế quốc của Trường Chinh đã có tiếng vang lớn không những trong hàng ngũ sinh viên và còn thức tỉnh các lớp thanh niên trí thức, tiểu tư sản, tham gia vào hàng ngũ cách mạng.
          Ở Nghệ An, trong những năm 1928-1929 đã có một số thanh niên ưu tú được tổ chức vào thanh niên cộng sản Đoàn do Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba... là những đoàn viên thanh niên cộng sản được dự lớp chính trị ở Quảng Châu trở về nước xây dựng cơ sở.
Năm 1929, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ cử Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung vào Nghệ Tĩnh xây dựng cơ sở Đảng ở Trung kỳ thì một số nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản ở các địa phương nói trên cũng được hình thành.
          Cũng trong năm này, các đảng viên cộng sản hoạt động ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ đã tuyên truyền, giác ngộ và tổ chức được nhiều thanh niên vào Đoàn. Riêng ở Sài Gòn, tại một số cơ sở quan trọng đã có những nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đảng viên.
Đến năm 1930, những nhóm đoàn viên này đã nhanh chóng chuyển thành các chi bộ Đoàn.
Vào thời gian nêu trên, trước yêu cầu của phong trào học sinh càng lên cao, Nguyễn Phong Sắc, Bí thư Kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Trung Kỳ đã chủ trương thành lập Ban Chấp hành Tổng sinh hội Nghệ An do Nguyễn Tiềm học sinh Trường Quốc học Vinh làm Bí thư, Tổng sinh hội phát hành tờ báo “Xích sinh” (Học sinh đỏ) kịch liệt tố cáo chính sách giáo dục nô dịch của thực dân Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản...
          Như vậy, cùng với sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản từ cuối năm 1929, trên đất nước ta đã hình thành những cơ sở đầu tiên của Đoàn thanh niên cộng sản, đó là các chi bộ Đoàn và các nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng do các đảng viên trực tiếp phụ trách.
           Đây là mốc quan trọng trong quá trình tiến tới thành lập Đoàn.
          Ngay trong hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2-1930, công tác vận động thanh niên đã được Nguyễn ái Quốc và các đại biểu đặc biệt quan tâm. Với việc thông qua chính cương, sách lược, điều lệ vắn tắt của Đảng, Hội nghị đã thông qua điều lệ của Đoàn thanh niên cộng sản. Và trong điều lệ vắn tắt của Đảng đã ghi rõ một điều kiện quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên cộng sản Đoàn”. Hội nghị cũng nói rõ Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, ngoài công tác hàng ngày cần phải tổ chức ngay “Đoàn thanh niên cộng sản”. Như vậy, vấn đề Đoàn thanh niên cộng sản đã được khẳng định trong hai văn bản trọng yếu của Hội nghị thành lập Đảng.
           Tháng 10 năm 1930 diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng đối với phong trào cách mạng nước ta nói chung và đối với tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên nước ta nói riêng. Đó là Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất thảo luận và thông qua nhiều văn kiện lớn có ý nghĩa lịch sử trong đó có:
         1- án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng.
         2- án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động.
         Ở văn kiện án nghị quyết chung về tình hình và nhiệm vụ có phần chỉ rõ về công tác thanh niên trong đó nêu bật: “... Đảng phải thi hành ngay án nghị quyết của Quốc tế Thanh niên cộng sản Đoàn và giúp cho Đoàn có tính chất độc lập...”
        Văn kiện Quốc tế mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất nhắc đến là Nghị quyết cụ thể về công tác thanh niên thuộc địa (trên cơ sở quán triệt Luận cương về thanh niên thuộc địa năm 1924) được Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ V thông qua vào năm 1928. Sau Đại hội lần thứ V này, với mối quan tâm đặc biệt đến phong trào cách mạng của thanh niên Đông Dương, ngoài việc truyền đạt nghị quyết cụ thể về công tác thanh niên thuộc địa, tháng 4 năm 1930 Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên cộng sản lại gửi tiếp cho những người cộng sản ở Đông Dương một bức thư rất quan trọng với nội dung vừa tổng kết kinh nghiệm chung của phong trào thanh niên cộng sản trên thế giới, vừa gợi ra những công việc phải làm đối với tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên cách mạng ở Đông Dương. Bức thư này đã được Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 coi như là một văn kiện quan trọng mà những đảng viên cộng sản ở Đông Dương có trách nhiệm nghiên cứu vận dụng. Vì lẽ đó, trong án nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 đặc biệt lưu ý việc phải thi hành ngay Nghị quyết về thanh niên thuộc địa của Quốc tế Thanh niên Cộng sản.
         Đối vối án nghị quyết về công tác thanh niên (sau này thường gọi tắt là Nghị quyết tháng 10), đây là văn kiện đầu tiên của Đảng ta đặt nền móng vững chắc về quan điểm, tư tưởng cho công tác vận động thanh niên ở Đông Dương trong phạm trù của cuộc cách mạng vô sản.
“Án nghị quyết” được trình bày theo ba phần.
          Phần thứ nhất nói về: “Địa vị thanh niên lao động và sự quan trọng của thanh niên cộng sản Đoàn”. Mở đầu phần này Nghị quyết đã đánh giá khái quát tình cảnh các tầng lớp thanh niên và khả năng cách mạng to lớn của họ: ... “ở Đông Dương, số thanh niên lao động (thanh niên công nhân và cu li ở các kỹ nghệ, đồn điền; thanh niên công nhân và thanh niên dân cày nghèo, thanh niên thủ công, thanh niên ở mướn, thanh niên làm việc trong các nhà buôn...” chiếm một phần khá đông. Đó là một hạng lao động bị bóc lột, đè nén hơn hết; thanh niên và trẻ con đi làm, tuy làm một công việc như người lớn nhưng ăn ít tiền công hơn, vả lại còn bị đánh đập ngược đãi hơn nhiều nữa”... Sự phân tích này có ý nghĩa rất quan trọng đã làm sáng tỏ tình trạng bị áp bức, bóc lột nặng nề của các tầng lớp thanh niên lao động ở Đông Dương về cả 3 mặt dân tộc, giai cấp, lứa tuổi.
          Từ sự phân tích này, Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lại là một hạng người ít bị những cái ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc chủ nghĩa trói buộc họ hơn người lớn, cho nên từ khi phong trào cách mạng nổi khắp trong xứ, chúng ta thấy quần chúng thanh niên tham gia rất hăng hái. Những cuộc công nhân bãi công và nông dân biểu tình trong năm nay tỏ rõ rằng thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng không thể không kể tới được...”
           Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra đời trong hoàn cảnh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân ta đang tiến tới cao trào: Hàng trăm cuộc bãi công của công nhân, biểu tình của nông dân đi đầu là thanh niên đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tác dụng tích cực và có ý nghĩa quyết định của thanh niên với tư cách là đội quân xung kích đã được Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng”. Như vậy đến lúc này, ảnh hưởng mạnh mẽ của Đảng trong thanh niên và tác động cụ thể của các tổ chức Đoàn trong việc tập hợp và hướng dẫn thanh niên đã dấy lên được một phong trào yêu nước trong tuổi trẻ.
          Phong trào ấy như Nghị quyết của Đảng đã nhận định là “làm cho nhiều thanh niên trong hạng tiểu tư sản, nhất là học sinh, tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị ở Đông Dương”.
Chính vì nhận thức được vai trò to lớn và lực lượng quan trọng của thanh niên nên các đảng phái chính trị đã tìm cách tranh thủ, lôi kéo thanh niên như Nghị quyết đã nêu rõ:... “Hết thảy những đảng phái ấy đều hiểu cái địa vị trọng yếu của thanh niên lao động...” Và kết luận được rút ra trong Nghị quyết là: “những điều đã nêu trên cho nên Đảng Cộng sản phải cần kíp công tác trong quần chúng thanh niên, phải lãnh đạo quần chúng thanh niên lao động thành phố, nhà quê tranh đấu hàng ngày và phải kéo họ ra khỏi ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc. Muốn được như vậy thì chỉ có tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên mới được...”.
          Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, đã dành một đoạn tiếp theo để nhắc lại rằng: ...“trong chương trình của Quốc tế Cộng sản thanh niên có chỗ nói rõ rằng Đảng Cộng sản, tức là đội lãnh đạo cho giai cấp công nhân, rất cần phải có một đám dự bị để lấy sức lực mới mẻ đem vào đội ngũ của mình; Đảng Cộng sản cần có một cái trường học dự bị, đào tạo những bọn con em của lao động cho Đảng Cộng sản và sau hết là phải cần có một tổ chức để chuyên trách lãnh đạo cho quần chúng thanh niên lao động tranh đấu để thực hiện chủ nghĩa cộng sản...”
            Phần đánh giá tình hình này đã được kết thúc bằng một đoạn văn nói lên nhiệm vụ cần kíp của tất cả những đảng viên cộng sản ở Đông Dương lúc này là: “... Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như là việc Đảng vậy...”.
          Phần thứ hai của “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” nói về: “Những điều căn bản của thanh niên cộng sản Đoàn”, nghĩa là đề cập đến tính chất, chức năng, nhiệm vụ và những vấn đề về nguyên tắc tổ chức của Đoàn thanh niên cộng sản.
Mở đầu phần này, Nghị quyết viết: “Cộng sản thanh niên Đoàn là đại biểu độc nhất của đám thanh niên công nông, của tất cả đám thanh niên thành phố và nhà quê, đoàn đại biểu quyền lợi cho thanh niên lao động và tranh đấu để bênh vực những quyền lợi ấy.
         Quyền chính của thanh niên lao động cũng giống như quyền lợi của lao động người lớn, nhưng thanh niên lại có những điều kiện cần và quyền lợi riêng của họ, riêng mà vẫn không trái gì với quyền lợi người lớn...”
          Sự ra đời của Đảng Cộng sản đã xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng nước ta.
          Đoàn thanh niên cộng sản là tổ chức thanh niên kiểu mới của Đảng, do Đảng tổ chức và lãnh đạo Đoàn là người đại diện cho quyền lợi của các tầng lớp thanh niên, trước hết là thanh niên công nông. Trong điều kiện của cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến đi tới xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì Đoàn là người “Đại diện độc nhất” và Đoàn là “đội tiên phong, là đội lãnh tụ cho thanh niên lao động” (theo án nghị quyết).
         Tuy nhiên Nghị quyết cũng chỉ rõ: ...“Cộng sản thanh niên Đoàn không phải là một Đảng cộng sản thứ hai cho thanh niên đâu. Nó là một cái tổ chức của thanh niên cộng sản thừa nhận và thi hành chương trình, điều lệ của Đảng Cộng sản...” nhưng đó lại là “...một đoàn thể độc lập, có cơ quan chỉ huy riêng...” Điều này ở thời kỳ đầu việc thực hiện đã gặp một số khó khăn do tình hình cán bộ.
          Chức năng chủ yếu của Đoàn là một “đoàn thể chính trị tranh đấu” và nhiệm vụ của Đoàn là “huấn luyện quần chúng thanh niên theo chủ nghĩa Lênin và xây dựng nên một cái đoàn thể để huấn luyện họ” (theo Nghị quyết).
          Nhưng Đoàn chỉ có thể thực hiện được chức năng và nhiệm vụ trên trong khi kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục và động viên thanh niên tham gia vào phong trào đấu tranh rộng lớn của quần chúng: “... việc huấn luyện có thực hành được là chỉ trong vòng giai cấp đấu tranh mà thôi. Cộng sản thanh niên Đoàn chỉ huy công việc cộng sản huấn luyện thanh niên và tham gia vào mỗi cuộc tranh đấu (bãi công, biểu tình,v.v...) để huấn luyện thanh niên và đánh đổ sự bóc lột họ...”
           Về nguyên tắc tổ chức, Nghị quyết viết... “Theo điều kiện bí mật ở Đông Dương thì cố nhiên Cộng sản thanh niên Đoàn cũng phải bí mật tổ chức và không thể bao quát được thanh niên. Song điều cốt yếu là phải như vậy; mỗi một công nhân, dân cày, mỗi một học sinh vô sản, từ 14 đến 23 tuổi có thể thành đoàn viên miễn là họ thừa nhận chương trình, điều lệ Đoàn tình nguyện vào cuộc vận động mà đấu tranh...”.
         Tuy nhiên, vấn đề là phải tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên vào các tổ chức để giáo dục và đưa vào cuộc tranh đấu. Do đó “Cộng sản thanh niên Đoàn không những chỉ lo một việc chính là tổ chức những chi bộ ở các sản nghiệp và các nơi khác mà còn phải tổ chức ra những đoàn thể phụ thuộc như là những bộ phận thanh niên trong các công, nông hội, thanh niên vệ đội. Đồng Tử quân, Thiếu niên cách mạng, Ban thanh niên trong Hội phản đế, Hội thể dục,v.v... những đoàn thể này phải ở dưới quyền chỉ huy và kiểm duyệt của Cộng sản thanh niên Đoàn mới được.
        Kết thúc phần này, Nghị quyết nhấn mạnh: ...“Đó là những điều chính mà đảng viên cộng sản cần phải nhớ trong lúc đi tổ chức cộng sản thanh niên Đoàn”...
        Phần ba Nghị quyết nói về: “Cách tổ chức Đảng Đoàn cộng sản thanh niên Đoàn”. Nghị quyết viết: ...“Trung ương, các Xứ ủy, các tỉnh, thành, Đặc ủy phải phái ra một đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong ủy viên hội của mình, những người này cùng với vài đồng chí thanh niên nữa lập thành những Uỷ hội tổ chức cộng sản thanh niên Đoàn ở Trung ương, các xứ, tỉnh thành, đặc biệt bộ...” và ở cơ sở thì “hễ kiếm được ba người thanh niên cách mạng như vậy thì tổ chức ngay một chi bộ của Đoàn”, Nghị quyết còn quy định cụ thể: “Mỗi chi bộ của Đảng phụ trách tổ chức ra chi bộ của Đoàn”.
           Đặc biệt về mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng, Nghị quyết viết: ...“Các đoàn thể của cộng sản thanh niên Đoàn sẽ theo chương trình, điều lệ của Đảng Cộng sản mà làm việc và phải tham gia hết thảy những cuộc tranh đấu, phải hết sức giúp cho Đảng...” Như vậy là ngay từ trong Nghị quyết đầu tiên này, Đảng đã xác định rõ chức năng của Đoàn là người giúp sức cho Đảng, là đội dự bị của Đảng và hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng. Đây là vấn đề thuộc tính nguyên tắc về sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với Đoàn, việc sớm xác lập những vấn đề mang tính chất nguyên tắc như thế đã tạo ra những thuận lợi rất cơ bản cho mọi hoạt động xây dựng tổ chức và đấu tranh của Đoàn. Nghị quyết còn chỉ rõ: ...“Báo chương của Đảng phải đề một phần mà công bố, truyền bá những tài liệu của cộng sản thanh niên Đoàn, chương trình điều lệ, thư, chỉ thị của Quốc tế Cộng sản thanh niên ngày 16 tháng 4 năm 1930. Nghị quyết đã đặt vấn đề chuẩn bị để sớm tổ chức Đại hội Đoàn toàn quốc nhằm “quyết định những vấn đề quan trọng của Đoàn và cử ra Ban Trung ương ủy viên của Đoàn” (tức Ban Chấp hành Trung ương Đoàn).
          “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” ra đời trong tháng 10 năm 1930 là một sự kiện hết sức quan trọng trong phong trào thanh niên nước ta. án nghị quyết đã được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng phong phú ở Đông Dương trong những năm 20 kết hợp với sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới và tổ chức thanh niên của Đảng cũng như những lời chỉ dẫn xác đáng của Quốc tế Thanh niên cộng sản. án nghị quyết là văn kiện nền tảng về lý luận vận động thanh niên đầu tiên của Đảng ta. Mặc dầu án nghị quyết ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng nhiều vấn đề cơ bản được đề ra trong Nghị quyết vẫn còn giữ nguyên giá trị chỉ đạo cho đến ngày nay.
         án nghị quyết ra đời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của phong trào yêu nước trong thanh niên ta đang phát triển mạnh và đã thực sự gây nên những chuyển biến đối với sự nghiệp xây dựng Đoàn. Trước hết trong đội ngũ cán bộ của Đảng, vấn đề nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt của công tác thanh niên cũng như trách nhiệm của người cộng sản đối với công tác này đã được nâng cao, mặt khác nghị quyết cũng đã trang bị những hiểu biết cần thiết cho cán bộ, đảng viên nhằm triển khai công tác vận động thanh niên, các cấp ủy Đảng địa phương đã gửi thông báo đến cơ sở yêu cầu “phải tổ chức thật nhanh chóng Đoàn thanh niên cộng sản từ chi bộ đến tỉnh bộ”. Chúng ta thấy rõ tác dụng tích cực của án nghị quyết tháng 10 năm 1930 trên hai mặt sau đây: Một là sự phát triển mạnh mẽ của các cơ sở Đoàn trên phạm vi cả nước; hai là vai trò của đoàn viên, thanh niên trong cao trào cách mạng mới của quần chúng lao động.
           Về mặt phát triển tổ chức, chúng ta thấy như sau: ở Nghệ An, Hà Tĩnh, trước tháng 10 năm 1930, số cơ sở Đoàn chỉ có từ 3 đến 4 chục đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đảng viên, chưa có sinh hoạt riêng. Nhưng đến tháng 12 năm 1930, tức là sau khi án nghị quyết được triển khai đến một số huyện thì số cơ sở Đoàn đã lên đến chừng một trăm đoàn viên lập thành các tiểu tổ chi bộ Đoàn riêng. Vào cuối năm 1930, thi hành thông báo của Xứ ủy Trung Kỳ, các chi bộ Đảng, các cấp huyện, thị đã tích cực phát triển Đoàn nên số đoàn viên ở hai tỉnh nói trên tăng lên đến gần 500 đồng chí, và cho đến năm 1931, số đoàn viên ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã tăng lên trên 2000 đồng chí (theo thống kê của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ An và Hà Tĩnh).
           Theo báo cáo của Xứ ủy Trung Kỳ thì đến tháng 12 năm 1930 trong 5 tỉnh ở Trung Kỳ gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Bình Định, Quảng Ngãi, số đoàn viên thanh niên cộng sản là 921 đồng chí, số sinh hội đỏ là 42 hội viên.
           Theo thư của đồng chí Nguyễn ái Quốc gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 20-4-1931 trong đó thống kê một số cơ sở Đoàn thì đến khoảng cuối năm 1930 đầu năm 1931, số lượng đoàn viên trong một số tỉnh ở nước ta là 942 đồng chí.
Theo văn bản nhan đề “Những thủ đoạn của đế quốc Pháp” được viết vào khoảng cuối năm 1930 đã thống kê một số cơ sở Đoàn và số lượng đoàn viên như sau: Hải Phòng 8 đoàn viên thanh niên cộng sản; Hòn Gai (mỏ) 10 đoàn viên thanh niên cộng sản; Nam Định 31 đoàn viên thanh niên cộng sản; Phủ Lý 13 đoàn viên thanh niên cộng sản; Thái Bình 11 đoàn viên thanh niên cộng sản tập hợp trong 3 chi bộ Đoàn và,v.v...
           Bằng một số lượng cán bộ, đoàn viên được phát triển khá mạnh cộng với hàng nghìn thanh niên cảm tình với Đoàn được tập hợp trong các tổ chức như Sinh hội, Hội cứu tế, Hội thể dục thể thao... tạo thành đội ngũ nòng cốt đảm đương vai trò là lực lượng xung kích đi đầu trong cao trào cách mạng những năm 1930-1931.
          Như phần trên đã trình bày chính từ trong phong trào đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn của thanh niên vào những năm 1928, 1929, 1930 kết hợp với những hoạt động tuyên truyền, giáo dục về lý tưởng cộng sản, về chủ nghĩa Mác-Lênin của những người Mácxít ở Đông Dương, sau này là những người cộng sản mà tổ chức cơ sở đầu tiên của Đoàn đã được hình thành. Khi phong trào đấu tranh càng lên cao thì sự đòi hỏi cấp bách lúc này là phải có đội tiên phong chiến đấu của thanh niên (tức Đoàn thanh niên cộng sản) để làm hạt nhân đoàn kết mọi lực lượng tuổi trẻ, làm người đại diện cho lợi ích chân chính của thanh niên, làm lực lượng xung kích và đội dự trữ của Đảng, làm chiếc cầu nối liền giữa thế hệ trẻ với Đảng của giai cấp công nhân, hướng dẫn quần chúng thanh niên đấu tranh dưới ngọn cờ của Đảng.
         Nhận thức được quy luật này, chỉ hơn 6 tháng sau ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra được một nghị quyết toàn diện về công tác thanh niên, trực tiếp bắt tay xây dựng Đoàn với một ý thức đầy đủ “coi việc Đoàn như việc Đảng” và “mọi đảng viên đều có trách nhiệm xây dựng Đoàn”.
          Khi đội ngũ cán bộ, đoàn viên được phát triển, được thử thách, rèn luyện qua thực tiễn tạo thành sức mạnh trở lại tác động đến phong trào, thúc đẩy phong trào tiến lên những bước mới.
Sau khi Đảng ra đời và các tổ chức cơ sở của Đoàn được phát triển mạnh ở các trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước, phong trào đấu tranh của nhân dân ta, trước hết là của công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, tiểu tư sản trí thức,v.v... dưới dự lãnh đạo của Đảng có sự phát triển vượt bậc. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, trong cả nước đã nổ ra 121 cuộc đấu tranh. Đây là một tình hình đặc biệt, chính trên cơ sở này, Đảng ta đã chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn nhằm giành những quyền lợi thiết thân và để tập hợp giáo dục quần chúng.
          Với lòng yêu nước, căm thù giặc cao độ, phong trào đấu tranh của quần chúng đi đầu là thanh niên đã bùng lên mạnh mẽ, lan đi nhanh chóng mà đỉnh cao là sự xuất hiện các Xô viết làm chức năng chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo ở nhiều vùng rộng lớn trong hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
          Bài ca “Thanh niên cận vệ” hùng tráng đã cổ vũ các chiến sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh trẻ tuổi vùng lên:
                        ... "Chúng ta là thanh niên cận vệ!
                             Chúng ta là đội cận vệ của ngày mai
                            Sinh trưởng trong nơi đớn đau, khốn cùng
                            Một là toàn thắng, hai là hy sinh
                           Vì công lý ta ra tranh đấu..."

             Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh: 29 cuộc ở miền Bắc, 316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam.
             Phong trào cách mạng của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được đồng chí Nguyễn ái Quốc theo dõi chặt chẽ và báo cáo thường xuyên cho Quốc tế Cộng sản.
            Ngày 29 tháng 9 năm 1930, Người gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản phản ánh về tình hình đấu tranh ở Nghệ Tĩnh và yêu cầu Quốc tế Cộng sản cho ý kiến chỉ đạo.
Ngày 5 tháng 11 năm 1930, Người gửi thư cho Quốc tế nông dân phản ánh về phong trào nông dân trong nước, đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
           Ngày 19-2-1931, Nguyễn ái Quốc gửi báo cáo lên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về cuộc đấu tranh ở Nghệ Tĩnh trong đó khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh... đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh”.
            Xô viết Nghệ Tĩnh là kết quả phát triển của cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Điều kiện cơ bản để tạo nên cao trào đó là do Nghệ Tĩnh sớm có một Đảng bộ mạnh, sớm hình thành được khối liên mình công nông, sớm xây dựng nên đội xung kích cách mạng của Đảng là Đoàn thanh niên cộng sản.
          Vai trò của đoàn viên và thanh niên trong Xô viết Nghệ Tĩnh được nhân dân và thanh niên cả nước ta đánh giá rất cao. Đó là những chiến sĩ quả cảm, chiến dấu quên mình vì lý tưởng của Đảng. Nhìn lại lực lượng đoàn viên và thanh thanh niên có tổ chức trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh chúng ta có thể nêu lên những số liệu tiêu biểu sau đây:
           - 2356 đoàn viên thanh niên cộng sản được tập hợp trong hàng trăm chi bộ Đoàn.
          - 9158 đội viên tự vệ đỏ (tuyệt đại bộ phận là thanh niên) được tập hợp trong 411 đơn vị do đảng viên hoặc cán bộ, đoàn viên thanh niên cộng sản chỉ huy.
         - Khoảng 600 thanh niên hăng hái cách mạng là cảm tình của Đoàn do các đoàn viên thanh niên cộng sản hướng dẫn hoạt động.
          - 513 đội viên thiếu niên do các chi bộ Đoàn hoặc các đội tự vệ hướng dẫn hoạt động.
          Chính trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã xuất hiện biết bao tấm gương anh hùng mở đầu cho truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đoàn. Một trong những tấm gương chói lọi đó là Cao Xuân Quế, 17 tuổi, quê ở xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn (tỉnh Nghệ An), anh là một thanh niên rất hăng hái cách mạng. Anh được kết nạp vào Đoàn trong những ngày đấu tranh quyết liệt và sau đó tham gia thanh niên xích vệ. Trong mọi cuộc đấu tranh, Cao Xuân Quế luôn hăng hái đi đầu, bất chấp hiểm nguy và không bao giờ từ nan một nhiệm vụ nào dù gian khổ, khó khăn đến đâu. Khi phong trào bị địch khủng bố mạnh, cơ quan của Đảng và đơn vị xích vệ phải tạm lánh vào rừng. Cao Xuân Quế vẫn sống lạc quan, tin tưởng. Một lần, trong khi đang làm nhiệm vụ, anh bị địch bắt. Biết anh là thanh niên cộng sản, địch dùng mọi cực hình tra tấn nhưng anh không hề hé môi khai với chúng nửa lời. Trong nhà giam, anh động viên những đoàn viên và thanh niên cùng bị bắt cất cao tiếng hát quen thuộc: “Chúng ta là thanh niên cận vệ”. Quế hy sinh giữa tuổi 17 trong sự tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng bào.
          Bên cạnh Cao Xuân Quế, chúng ta còn thấy nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất khác. Đó là Lê Cảnh Nhượng, bí thư chi bộ Đoàn thanh niên cộng sản xã Phong Nẳm, huyện Thanh Chương (tỉnh Nghệ An). Anh còn là người chỉ huy gan dạ của đội tự vệ xã. Sau khi bị bắt, địch đưa anh ra trước tòa án của đế quốc, phong kiến để xử. Lúc nghe bọn quan tòa thóa mạ Đảng ta, anh đứng phắt dậy, chỉ vào mặt chúng: ... “Các người không được nói láo, Đảng Cộng sản chúng tôi không hề cướp của, giết người, Đảng chúng tôi làm cách mạng để đánh đổ đế quốc, phong kiến, chính các người mới là bọn cướp của, giết người...”.
           Để khủng bố tinh thần nhân dân, địch đưa đồng chí Lê Cảnh Nhượng về chính quê anh để xử bắn. Một lần nữa Nhượng lại vạch mặt quân thù trước khi ngã xuống...
Xô viết Nghệ Tĩnh là trận thử lửa đầu tiên đối với lớp đoàn viên thanh niên cộng sản thuộc thế hệ 1925-1935 quyết một lòng theo Đảng và đã tỏ rõ khí phách anh hùng xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng và nhân dân.
          Phối hợp với tuổi trẻ Nghệ Tĩnh, tuổi trẻ cả nước ta trong thời gian này đã đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh chống quân thù. Biết bao đoàn viên thanh niên cộng sản đã hy sinh anh dũng với tư thế hiên ngang trước họng súng của quân thù. Trong số đó, tên tuổi của Lý Tự Trọng, người đoàn viên thanh niên cộng sản được Nguyễn ái Quốc ân cần chăm sóc, đào tạo, giáo dục từ lúc còn tuổi thiếu niên đã được tuổi trẻ Việt Nam cũng như tuổi trẻ nhiều nước trên thế giới biết đến như một biểu tượng rực rỡ của tinh thần bất khuất và lạc quan cách mạng tuyệt vời. Anh về nước công tác theo sự phân công của tổ chức nhằm góp phần xây dựng cơ sở Đoàn ở miền Nam nước ta trong cao trào đấu tranh 1930-1931, ngoài ra anh còn làm nhiệm vụ giao liên cho Trung ương và Xứ ủy Đảng. Lý Tự Trọng đã tỏ rõ tinh thần gan dạ vô song đối với mọi công việc mà anh đảm nhận. Để cứu nguy cho đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám cáo già Lơgơrăng ngay trên đường phố Sài Gòn (chiều chủ nhật ngày 8-2-1931). Sa vào tay giặc và bị chúng dùng mọi cực hình dã man để tra tấn song chính khí tiết của anh đã làm cho kẻ thù phải kính nể. Chúng gọi anh là “Ông nhỏ” và kinh ngạc mỗi lúc nghe anh ngâm Kiều trong xà lim tử hình. Tra tấn không khuất phục được anh, kẻ địch lại dùng thủ đoạn mua chuộc hèn hạ nhưng chúng cũng lại bị thất bại nhục nhã.
          Trước tòa án của kẻ thù, Lý Tự Trọng đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi hoạt động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm. Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”.
          Lời nói đanh thép mang nội dung chân lý sâu sắc đó được các thế hệ tuổi trẻ Việt Nam coi như bản tuyên ngôn bất diệt của thế hệ thanh niên mở đường cách mạng ở nước ta, có sức cổ vũ vô cùng to lớn đối với những người tiếp bước theo anh.
Theo dõi chặt chẽ hành động anh hùng của Lý Tự Trọng, ngày 21-12-1931, Nguyễn ái Quốc đã gửi thư cho Bộ Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo tin này và đề nghị Bộ Phương Đông yêu cầu Đảng Cộng sản Pháp tổ chức biểu tình đòi trả tự do cho Lý Tự Trọng.
                                                                                *
                                                                           *       *
         Vào đầu năm 1931, thực hiện án nghị quyết tháng 10-1930 về công tác thanh niên của Hội nghị Trung ương Đảng, các cơ sở Đoàn đã được xây dựng trên hầu khắp nước ta từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, hệ thống tổ chức của Đoàn vẫn chưa được thống nhất và Đoàn chưa có sinh hoạt riêng.
         Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư của Đảng đã diễn ra tại Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 3-1931, Hội nghị đã dành nhiều thời gian để bàn về công tác xây dựng Đảng và xây dựng Đoàn. Hội nghị đã nghiên cứu bức thư của Ban Chấp hành Quốc tế thanh niên cộng sản gửi cho Đảng ta, kiểm điểm việc thực hiện “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động của Hội nghị Trung ương lần thứ nhất” tháng 10 năm 1930 và đề ra nhiệm vụ: “Cần kíp tổ chức ra thanh niên cộng sản Đoàn”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai phần về công tác thanh niên đã vạch rõ: “...Lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn và phải chỉ đạo cho các chi bộ mới thành lập của Đoàn bắt đầu khẩu hiệu của thanh niên và hiệu triệu quần chúng...”. Trước Hội nghị Trung ương lần thứ 2, tháng 3-1931 khoảng một tháng (tức là vào tháng 2 năm 1931. Thường vụ Trung ương Đảng đã cử một đồng chí trong Thường vụ phụ trách công tác thanh niên ở các cấp Trung ương. Tuy Hội nghị Trung ương lần thứ hai không ra nghị quyết mới về công tác thanh niên nhưng dã có nhiều hoạt động hết sức quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của phong trào thanh niên, đặc biệt là đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương trong tình hình mới.
         Theo dõi sát sao tình hình xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn và các tổ chức quần chúng khác trong nước ngày 20-4-1931 đồng chí Nguyễn ái Quốc đã gửi một bức thư hết sức quan trọng cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhận xét về những ưu và khuyết điểm trong công tác của Đảng, vạch ra hướng phát triển.
            Trong bức thư này, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã làm một bản thống kê các cơ sở Đảng, cơ sở Đoàn ở nhiều địa phương trong nước và nêu lên những ý kiến so sánh. Cuối thư, Người chỉ thị: “Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất thanh niên cộng sản Đoàn và công hội, làm cho họ có sinh hoạt độc lập”. Chỉ thị của Người đã nhấn mạnh và làm sâu sắc thêm tinh thần nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ nhất và lần thứ hai về công tác thanh niên trong tình hình mới mà Người đã thường xuyên quan tâm.
          Như vậy là đến tháng 3 năm 1931, sau một quá tình chuẩn bị lâu dài, gian khổ từ năm 1925 đến 1930 được sự tổ chức lãnh đạo của hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí và của Đảng Cộng sản Đông Dương; từ trong các phong trào đấu tranh yêu nước rộng lớn của thanh niên và nhân dân theo con đường của cách mạng vô sản; được sự trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức, lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, tổ chức thanh niên cơ sở ở nước ta “từ bước đầu hiếm hoi” với một nhóm nhỏ đoàn viên do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chăm sóc, dìu dắt, chỉ sau một thời gian ngắn 5 năm đã phát triển nhanh chóng và lớn mạnh vượt bậc.
       Vào mùa xuân năm 1931 ở thời điểm từ ngày 20 đến 26-3-1931, khi tiến hành Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, trong đó Trung ương dành một phầnquan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên đã đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt như các cấp Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các cấp ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Trước sự phát triển và lớn mạnh của phong trào thanh niên cũng như sự phát triển và lớn mạnh của Đoàn, trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng hơn 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành hệ thống tổ chức Đoàn xã, huyện lên đến tỉnh. Đến cuối năm 1931 số lượng đoàn viên trong cả nước lên đến khoảng hơn 2500 đồng chí, chứng tỏ tác động tích cực của những quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3 - 1931). Biết bao đoàn viên và thanh niên đã chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của Đoàn. Qua những đóng góp to lớn của đoàn viên, thanh niên và sự nghiệp lớn mạnh của Đoàn trong cao trào đấu tranh cách mạng thời kỳ năm 1930 - 1931, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương được Ban Chấp hành Quốc tế thanh niên cộng sản công nhận là một bộ phận của Quốc tế thanh niên cộng sản.
            Sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương đáp ứng kịp thời đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta lúc bấy giờ. Đây là sự vận động khách quan phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng nước ta đồng thời phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu, Người đã sáng lập và rèn luyện Đoàn từ những ngày đầu trứng nước. Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25-3-1961 đã quyết định lấy ngày 26-3-1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai đã dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác vận động thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm.
            Ngày 26-3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam, của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quang vinh...
                                                                                                                              

                                                                                                                          HẾT CHƯƠNG I

 

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 
 Mua thiết bị định vị: http://adsun.vn/, thiết bị dạy nghề,Giá hộp đen ô tô tải định vị, tin tức kinh doanh, thuê xe du lịch mũi né, lập trình PHP, Máy chạy bộ điện,  sửa máy giặt, vai ao dai, du lich thai lan, tour du lich campuchia, tour du lich campuchia