Chào mừng Đại hội Đoàn cấp cơ sở, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Vĩnh Linh lần thứ XVI - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, sáng tạo, thi đua lập thân, khởi nghiệp, xung kích, tình nguyện xây dựng quê hương giàu đẹp - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, thi đua rèn đức, học tập, lao động, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ quê hương                     
12:21 ICT Thứ tư, 29/03/2017

THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

LIÊN KẾT WEBSITE

Website NTLS Trường Sơn
Đoàn Dân Chính Đảng
cho thue xe 4 cho

Trang nhất » TIN TỨC » Đoàn TNCS Hồ Chí Minh » Lịch sử Hội LHTN Việt Nam

CHƯƠNG II: ĐẤU TRANH CHỐNG BỌN PHẢN ĐỘNG, THUỘC ĐỊA, CHỐNG KHỦNG BỐ ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ , CƠM ÁO, HÒA BÌNH

Thứ sáu - 17/09/2010 10:18 | Đã xem: 2190

Sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, cách mạng nước ta bị đế quốc, phong kiến đàn áp, khủng bố khốc liệt. Hàng vạn đảng viên, đoàn viên, thanh niên yêu nước bị chém giết, tù đày. Tuy nhiên, những chiến sĩ cách mạng, thanh niên yêu nước còn lại vẫn hoạt động kiên cường bất chấp gươm súng của kẻ thù.
Tháng 3/1935, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập bao gồm Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng Cấp tiến, Tổng Liên đoàn Lao động Thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác. Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 5/1936, Mặt trận Nhân dân giành được đa số phiếu và tháng 6/1936, Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp.
Chính phủ này thực chất vẫn là cơ quan chấp hành ý chí của giai cấp tư sản Pháp. Nhưng trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng đoàn kết trong Mặt trận Nhân dân, một số yêu sách về xã hội – kinh tế trong cương lĩnh của Mặt trận đã được thực hiện.
Căn cứ vào những diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, quán triệt và vận dụng Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam và để thực sự phối hợp giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, nhất là cách mạng Pháp. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng đã định ra đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.
Nhiệm vụ trước mắt của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng ở Đông Đương, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống, chống chiến tranh phát xít, bảo vệ hoà bình. Vì vậy, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế rộng rãi (về sau đổi thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ) bao gồm tất cả các giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau để cùng đấu tranh đòi những điều kiện dân chủ tối thiểu cho nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương.
Để phù hợp với sự chuyển hướng về nhiệm vụ, Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.
Tiếp sau đó, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7 năm 1936 đã ra những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động thanh niên. Các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp tháng 3/1937, tháng 9/1937 và tháng 3/1938 đều có những quyết nghị về công tác vận động thanh niên, chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ công tác tư tưởng và tổ chức của Đoàn trong thời kỳ này.
Tháng 9/1937, Đảng nhấn mạnh phải ra sức tổ chức các hội quần chúng phổ thông của thanh niên (Thanh niên dân chủ, tân tiến, thể thao, khuyến học…vv) để thu phục quảng đại quần chúng thành một Mặt trận Thống nhất Thanh niên. Đến tháng 3/1938 Đảng quyết định tổ chức Thanh niên tân tiến Hội để giúp Đảng vận động các tầng lớp thanh niên phù hợp với hoàn cảnh, trình độ, tâm lý của họ để có khẩu hiệu và hình thức tổ chức thích hợp (phổ thông và công khai hoặc bán công khai, như hội đá bóng, đọc báo, âm nhạc…vv). Trong thời kỳ 1936 – 1939, Đoàn Thanh niên có nhiều tên gọi khác nhau song đều nhằm mục đích đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, vì vậy chúng ta thường gọi tên chung là Đoàn Thanh niên Dân chủ. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn là vừa củng cố tổ chức vững mạnh vừa ra sức tập hợp đoàn kết các tầng lớp thanh niên vào các tổ chức rộng rãi, hình thành nên nhiều Hội quần chúng của thanh niên theo sở thích, nghề nghiệp, lợi ích… nhằm lôi kéo thanh niên đấu tranh cho các quyền dân chủ, dân sinh, nghĩa là phải hình thành cho được một mặt trận thanh niên thật sự rộng rãi.
Thanh niên là lực lượng hăng hái, tích cực nhất trong các Uỷ ban Hành động, trong việc đi thu thập nguyện vọng của nhân dân. Những yêu cầu về quyền dân sinh, dân chủ này cũng là nguyện vọng bức bách của đông đảo thanh niên và quần chúng lao động vì rằng: “Trừ một số ít thanh niên con nhà tư sản, thì hầu hết thanh niên lao động cho đến thanh niên tiểu tư sản đều phải sống cuộc đời khốn quẫn về vật chất lẫn tinh thần".
Phong trào Đông Dương Đại hội phát triển nhanh chóng chỉ trong một thời gian ngắn, ở Nam Bộ đã có 600 Uỷ ban Hành động, phần lớn là thanh niên tham gia. Một số Uỷ ban Hành động như ở thành phố Sài Gòn bao gồm 100% là thanh niên có cảm tình với cách mạng. Các Uỷ ban Hành động tổ chức nhiều cuộc hội nghị, mít tinh để giải thích, thảo luận về tình hình, thời cuộc, về tình cảnh đời sống, về Mặt trận Nhân dân và những yêu cầu về quyền dân chủ, cải thiện đời sống về luật lao động. Qua các cuộc sinh hoạt chính trị này, thanh niên càng thấy rõ, muốn có được những quyền lợi tối thiểu thì phải đoàn kết lại và tổ chức đấu tranh.
Hoảng sợ trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, Chính phủ Pháp ra lệnh cấm Đông Dương Đại hội, nhưng chúng không ngăn cấm được làn sóng đòi quyền dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân ta.
Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp thanh niên ngày một lan rộng khắp các thành phố và địa phương trong cả nước, thanh niên công nhân đấu tranh đòi tự do lập nghiệp đoàn, tăng lương, giảm giờ làm; phản đối đánh đập, cúp phạt, chống đuổi thợ. Thanh niên nông dân đòi cứu tế nạn đói, nạn lụt, đòi chia lại ruộng công, chống sưu cao, thuế nặng, cướp ruộng đất, nữ thanh niên đòi quyền lợi ngang nam giới; việc làm như nhau, tiền lương ngang nhau, cấm bắt chị em làm công việc nặng nề có hại đến sức khoẻ, cấm bắt bớ, bỏ tù phụ nữ khi đến kỳ sinh đẻ… Thanh niên học sinh đòi mở thêm trường vv…
Chỉ tính 6 tháng cuối năm 1936 đã có 361 cuộc đấu tranh trong đó có 236 cuộc của công nhân. Có những cuộc bãi công thu hút hàng nghìn thanh niên công nhân tham gia như cuộc bãi công của 5000 công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), tiêu biểu là cuộc bãi công lớn của hơn 30.000 công nhân mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả.
Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân lao động Đông Dương, trước sức ép của Mặt trận Nhân dân Pháp và Đảng Cộng sản Pháp, theo lệnh Chính phủ Pháp, ngày 11/10/1936, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định về một số quyền lợi của công nhân và lao động làm thuê như thời gian lao động trong một ngày không quá 10 giờ kể từ ngày 1/11/1936, không quá 9 giờ kể từ ngày 1/11/1938, được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép hàng năm (5 ngày kể từ năm 1937 và 10 ngày kể từ năm 1938) được hưởng lương, cấm bắt đàn bà, trẻ em làm việc ban đêm…vv
Ngày 30 tháng 12 năm 1936, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ra Nghị định quy định thêm một số chế độ lao động như chế độ học nghề, tiền lương tối thiểu, cấm cúp phạt bằng tiền, chế độ nghỉ đẻ, nghỉ cho con bú trong thời gian làm việc…
Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp đã ra sắc lệnh “ân xá” tù chính trị ở Đông Dương, vào các năm 1936 và 1937. Trên 2500 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản được thoát ra khỏi các nhà tù của bọn đế quốc.
Những thắng lợi trên đây tuy mới là bước đầu nhưng hết sức quan trọng đã nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân ta.
Mặc dù bọn phản động thuộc địa ngoan cố ngăn cấm và đàn áp, nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng vẫn không ngừng phát triển. Trong năm 1937 có gần 400 cuộc đấu tranh của công nhân, có những cuộc bãi công lớn có tổ chức và kéo dài như cuộc bãi công của 300 công nhân nhà máy Tơ Hải Phòng (tháng 1/1937); của 7000 công nhân Dệt Nam Định (tháng 2/1937); của 4000 công nhân Ba Son (tháng 4/1937); công nhân mỏ Uông Bí (tháng 7/1937), tiêu biểu nhất là bãi công của 3000 công nhân xe lửa Trường Thi (Vinh) và miền Nam Đông Dương (tháng 7/1937).
ở nông thôn, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh thu hút hàng chục vạn nông dân tham gia đòi giảm sưu, giảm thuế, chống cướp ruộng đất, đòi chia lại ruộng công, xoá bỏ hủ tục hương thôn, chống bọn cường hào, lý hương tham nhũng… Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân và thanh niên Cà Mau (tỉnh Bạc Liêu cũ) chống bọn địa chủ cướp đất và ức hiếp dân nghèo (cuối năm 1938). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn trong cả vùng đồng bằng Nam Bộ. Thanh niên các tỉnh Mỹ Tho, Gia Định – Sài Gòn, Vĩnh Long, Bạc Liêu vv… đã tích cực hưởng ứng cuộc đấu tranh của nông dân và thanh niên Cà Mau.
Dưới ngọn cờ của Đảng, phong trào đấu tranh ngày càng phát triển mạnh mẽ và thanh niên đã thể hiện là một lực lượng xã hội to lớn luôn giữ vai trò đi đầu trên các trận tuyến chống quân thù. Đoàn Thanh niên Dân chủ từng bước được củng cố và phát triển tổ chức. Thông qua đấu tranh, ý thức giác ngộ của quần chúng thanh niên được nâng cao và ảnh hưởng của Đảng trong thanh niên ngày càng thêm sâu rộng.
Trong thời kỳ này, Đảng ta triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng. Nhờ khôn khéo lợi dụng mọi khả năng hợp pháp, từ năm 1937, báo chí công khai do Đảng lãnh đạo phát triển nhanh chóng. Hàng chục tờ báo của Đảng, của Mặt trận Dân chủ, Đoàn Thanh niên Dân chủ ra đời.
Tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lương Khánh Thiện, đầu năm 1937 báo Bạn dân - tờ báo của thanh niên ra đời. Báo Bạn dân nhanh chóng chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc trẻ tuổi trong nước, trở thành người tuyên truyền, giáo dục tích cực trong quần chúng thanh niên. Sau khi báo Bạn dân bị đình bản, Đoàn Thanh niên Dân chủ lại cho xuất bản báo Thế giới ở Hà Nội và Đoàn Thanh niên Dân chủ Sài Gòn – Gia Định xuất bản báo Mới ở Sài Gòn.
Mục tiêu đấu tranh của báo Thế Giới và báo Mới trong thời gian này là vạch trần chế độ thuộc địa và phong kiến thối nát, phản động, phản ánh tình trạng bị áp bức, bóc lột và những nguyện vọng của tầng lớp thanh niên, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin; hướng dẫn, động viên quần chúng thanh niên đoàn kết, đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, tay sai, đòi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống.
Đi đôi với việc xuất bản các tờ báo công khai của Đoàn, các Hội đọc sách báo của thanh niên, các đội văn nghệ, các nhóm thanh niên nghiên cứu của nghĩa Mác – Lênin được thành lập ở nhiều nơi thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Nhiều tác phẩm chính trị và văn học của Mác, Ănghen, Lênin, Goocki vv… được thanh niên truyền tay nhau đọc như: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tư bản, Chống Duyrinh, Nhà nước là gì? Người mẹ vv… Thanh niên còn tham gia học tập và nghiên cứu những cuốn sách do các chiến sĩ cách mạng Việt Nam viết như cuốn Mác xít phổ thông của Hải Triều, Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình vv…
Tổ chức Đoàn ở Hà Nội đã vận động hàng nghìn thanh niên tham gia lễ truy điệu và đưa tang chiến sĩ cách mạng có uy tín như: Nguyễn Thế Rục, Phan Thanh… biến cuộc đưa tang thành cuộc diễu hành biểu dương lực lượng với khẩu hiệu chính trị đòi thực hiện các quyền dân chủ mà các chiến sĩ cộng sản đã kiên trì nêu gương.
Thời gian này, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài. Người dành thời gian theo dõi chặt chẽ tình hình trong nước và bằng nhiều con đường khác nhau đã truyền đạt cho Đảng ta những vấn đề về đường lối chỉ đạo rất quan trọng. Người vạch rõ: “Nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Đông Dương lúc này là đấu tranh đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp". Vấn đề tập hợp quần chúng, giác ngộ quần chúng là điều Người đặc biệt quan tâm.
Vượt qua mọi khó khăn, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc liên tục viết đến 9 bài báo nói về các quan điểm chỉ đạo quần chúng đấu tranh với các bút danh khác nhau trong đó có những bài giới thiệu kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân Pháp, nhân dân Tây Ban Nha, nhân dân Trung Quốc vv… Những bài báo quan trọng của Người đã được đăng trên các báo công khai của Đảng ta như Dân chúng và Notre voix (Tiếng nói của chúng ta bằng Pháp ngữ) phát hành công khai khắp Đông Dương. Đây là những tài liệu rất quý báu cho Đoàn và các hội quần chúng của thanh niên do Đoàn làm nòng cốt.
Đầu năm 1938, Đảng ta chủ trương thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ để nâng cao trình độ hiểu biết cho dân lao động. Thanh niên học sinh, sinh viên là lực lượng nòng cốt của phong trào này. Đảng còn cử nhiều đảng viên và đoàn viên Thanh niên Dân chủ tham gia công tác ở cơ quan thường trực của Hội và cả các ban chuyên môn, nhất là các ban Dạy học và Cổ động. Thanh niên công nhân, nông dân hăng hái đi học. Do những cố gắng của Đoàn Thanh niên Dân chủ, trong hai năm 1938–1939, riêng ở Hà Nội đã thanh toán nạn mù chữ cho hàng nghìn người.
Một thắng lợi lớn của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương là tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 một cách công khai, biểu dương được sức mạnh của giai cấp công nhân, của các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta tại nhà Đấu xảo Hà Nội.
Đoàn Thanh niên Dân chủ và các Hội Thanh niên Hà Nội là thành viên tích cực trong ban tổ chức, đã huy động đông đảo thanh niên tham gia cuộc mít tinh lớn gồm hàng vạn người này.
Nhiều đại biểu thanh niên công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức,… đã lên diễn đàn kêu gọi tuổi trẻ siết chặt hàng ngũ chung quanh Mặt trận Dân chủ đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì hoà bình, cải thiện dân sinh, chống phản động thuộc địa, quan lại phong kiến thối nát. Sau đó đại biểu thanh niên cùng các giới đồng bào tham gia mít tinh đã tổ chức diễu hành qua nhiều đường phố Hà Nội. Hoạt động rầm rộ trong ngày 1/5/1938 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của tuổi trẻ Hà Nội và nhiều địa phương lân cận.
Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 còn được tổ chức rầm rộ ở các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các thành phố lớn, các tỉnh Nam Bộ…như một ngày hội của quần chúng và tuổi trẻ.
Tiêu biểu cho lớp thanh niên trong giai đoạn cách mạng này là Trần Hải Kế, Nguyễn Văn Trạch…
Trần Hải Kế sinh năm 1917, trong một gia đình công nhân hoả xa ở ngõ chợ Khâm Thiên. Anh giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào học sinh ở trường Thăng Long. Trần Hải Kế đi theo cách mạng với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Anh là một thanh niên khỏe mạnh lại giỏi võ thuật nên thường được phân công bảo vệ các cán bộ lãnh đạo trong các cuộc mít tinh, diễu hành cũng như nhiều hoạt động lớn của Đoàn.
Sau cao trào Dân chủ, Trần Hải Kế được điều động vào Nghệ An công tác. Tại đây anh bị địch bắt và tra tấn dã man, song anh không hề hé răng khai nửa lời.
Địch đẩy anh đến trại Đắc Tô (Tây Nguyên). Trong mọi hoàn cảnh, Trần Hải Kế luôn giữ vững khí tiết và đã anh dũng hy sinh.
Nguyễn Văn Trạch sinh năm 1918, quê ở ứng Hoà, Hà Tây. Xuất thân từ một gia đình nho giáo yêu nước. Cụ nội là Nguyễn Viết Bình đỗ Hoàng Giáp dưới triều đại Tự Đức. Cụ có người con là Nguyễn Văn Vinh tham gia khởi nghĩa Yên Bái bị địch bắt đem chôn sống năm 1930. Câu chuyện này ông thân sinh của Nguyễn Văn Trạch là Nguyễn Văn Lương, một công chức nhỏ làm việc ở Tiền Hải (Thái Bình), đã có lần kể cho Nguyễn Văn Trạch nghe, khi anh đang theo học ở trường tiểu học của tỉnh. Anh nuôi chí căm thù quân xâm lược từ đó. Tuy gia đình đông con (9 người), cuộc sống công chức vất vả, nhưng ông bà Nguyễn Văn Lương thấy Trạch (con cả) thông minh, học giỏi nên cố gắng dè xẻn trong chi tiêu để cho anh tiếp tục học bậc trung học. Không phụ công lao của cha mẹ, Nguyễn Văn Trạch đã thi đỗ toàn phần tú tài (theo chế độ giáo dục cũ của thực dân trước Cách mạng Tháng Tám) chỉ trong thời gian 2 năm. Chẳng những học giỏi, anh còn có năng khiếu về nhạc, thơ, đặc biệt là có thân hình cao lớn (nặng 70 kg, cao 1m75), lại rất hăng say luyện tập võ thuật, nhất là quyền Anh.
Năm 19 tuổi, Nguyễn Văn Trạch thi đỗ vào trường Đại học Luật Hà Nội và đầu năm 1937 anh tham gia hoạt động cách mạng với tên mới là Hồng Quang. Anh lĩnh hội chủ nghĩa Mác – Lênin qua lớp nghiên cứu của Đảng mở ở số nhà 14 Phạm Phú Thứ và trực tiếp đọc tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp. Đây là tác phẩm vừa làm anh thán phục vừa nâng cao giác ngộ cách mạng cho anh. Do có tài hùng biện, anh dám tổ chức tuyên truyền yêu nước công khai trong các nhóm sinh viên bạn hữu, đặc biệt là dám đứng lên phản đối luận điệu thoá mạ dân tộc ta của giáo viên người Pháp Kêrian. Việc này có tiếng vang trong giới sinh viên. Đến trường, anh thường mang theo báo La Lutte, Notre Voix (Tranh đấu, Tiếng nói của chúng ta), những tờ báo công khai bằng tiếng Pháp của Đảng ta.
Bọn phản động thuộc địa cho anh là “tên nổi loạn trong trường đại học”, một “phần tử nguy hiểm cho sinh viên” nên viện mọi lý do vô lý đuổi anh khỏi trường đại học vào cuối năm thứ hai.
Để kiếm sống, Nguyễn Văn Trạch nhận dạy tư cho một số gia đình khá giả. Lúc này tổ chức giao cho anh trực tiếp cùng một nhóm sinh viên làm chủ hiệu sách Đồng Xuân, trung tâm phát hành báo chí cách mạng lớn của Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ. Đây cũng là cơ sở liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ. Phát hiện anh là một sinh viên yêu nước có tài, có dũng khí, Đoàn ra sức bồi dưỡng anh về chính trị và phẩm chất cách mạng, đưa anh tham gia vào Ban Chấp hành Xứ Đoàn Thanh niên Dân chủ Bắc Kỳ và Đoàn giao cho anh trách nhiệm cùng nhiều cán bộ khác nghiên cứu xây dựng căn cứ cho Xứ uỷ Bắc Kỳ ở Phú Thọ khi dự đoán đúng đắn tình hình có thể xấu đi, bọn phản động thuộc địa sẽ trở lại chính sách khủng bố, đàn áp dã man. Nguyễn Văn Trạch đã bị bắt ở Hà Nội do “Hoạt động tuyên truyền cộng sản” cùng với nhiều đồng chí như Trần Huy Liệu, Lương Khánh Thiện, Văn Tiến Dũng… Lần đầu tiên, trong trại giam Hoả Lò, Hồng Quang được tiếp xúc với các chiến sỹ cách mạng đàn anh nổi tiếng. Anh tìm cách gần gũi các đồng chí để học tập thêm kinh nghiệm đấu tranh như giúp đồng chí Văn Tiến Dũng bồi dưỡng thêm tiếng Pháp qua các tác phẩm văn học Pháp, anh còn kể lại những đoạn văn, thơ bất hủ trong các tác phẩm của V.Huygô, Pôn Véclen, Lamáctin, Êmin Dola, Anphônxơđôđê… nên được các đồng chí càng thêm yêu mến.
Ngày địch đưa anh ra toà, gia đình thuê Luật sư Trần Văn Chương là người có thế lực bào chữa cho anh. Anh từ chối khéo với lý do mình đã là sinh viên trường Luật, hơn thế bản thân anh không có tội gì cả.
Phiên toà xử án Hồng Quang có rất đông người dự, nhất là sinh viên, học sinh các trường Hà Nội. Hồng Quang dõng dạc hỏi vặn lại quan toà: "Chủ nghĩa cộng sản có gì là không tốt, biết bao công dân Pháp đi theo chủ nghĩa cộng sản một cách công khai… nếu cần bỏ tù thì các ông hãy bỏ tù những người đó, những người đó đã từng tham gia chính phủ của các ông kia mà!”.
Hồng Quang bước ra khỏi nhà tù Hoả Lò với bản án treo 1 năm! Anh đã thắng và đã góp phần nâng cao uy tín của Đảng ta. Đảng bố trí cho anh thoát ly gia đình. Anh vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng sau những năm thử thách.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nội các do Daladier thiên hữu lên cầm quyền ở Pháp tiến hành đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng ở Đông Dương. Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng ta ra “Thông cáo gửi các cấp bộ Đảng” giải thích tình hình, đồng thời đề ra một số chủ trương quan trọng để ứng phó với tình hình mới.
Khu căn cứ của Xứ uỷ Bắc Kỳ được hình thành ở một số huyện vùng cao tỉnh Phú Thọ. Hồng Quang được Đảng điều đến đó làm việc cùng với các đồng chí Lương Khánh Thiện, Thành Ngọc Quản, Đào Duy Kỳ, Trần Thị Minh Châu, Bùi Công Trừng… một thời gian sau, Hồng Quang được Xứ uỷ điều động về miền xuôi tham gia Tỉnh uỷ Hải Dương.
Nguỵ trang dưới hình thức một công nhân vận tải đường sông, anh xây dựng được nhiều cơ sở tại địa phương. Chùa Trại Sơn (huỵên Thuỷ Nguyên) do bà nội anh là sư cụ Huệ Trâm chủ trì trở thành một trong những cơ sở bảo vệ cán bộ. Hang Dốc Tít bên cạnh chùa là cơ sở ấn loát của Tỉnh uỷ. Ngoài nhiệm vụ trong Tỉnh uỷ, Hồng Quang còn là đường dây liên hệ của Xứ uỷ từ Bắc vào Trung. Một lần anh cải trang thành thầy giáo lên tàu từ Hải Dương về Hà Nội, không may anh bị địch phát hiện, hai tên mật thám áp sát vào bắt anh, một tên chưa kịp gí súng vào người đã bị anh nhanh chóng cho một quả đấm nằm sóng soài ra sàn tàu, tên còn lại cũng bị quật ngã. ấy là nhờ hồi còn là sinh viên Hồng Quang rất chăm luyện tập quyền Anh. Hồng Quang chuyển toa và chờ lúc tàu sắp vào ga chạy chậm, anh lao xuống biến mất trong đêm.
Cuối tháng 4/1941, sau khi Hội nghị đại biểu Liên Tỉnh uỷ khu B vừa bế mạc, bọn mật thám Hải Dương phối hợp với lính lệ huyện Khoái Châu vây bắt những người còn lại. Sự việc cũng diễn ra trong đêm, Hồng Quang đã đánh trả quyết liệt và sắp thoát được thì chẳng may bị rơi cặp kính cận. Anh bị bắt. Địch dễ dàng biết anh vì tri huyện Khoái Châu vốn cùng học trường Luật với anh năm nào. Tên chánh mật thám Hải Dương (Quetsnoy) trực tiếp chỉ huy cuộc tra tấn anh trong suốt 10 ngày đầu để truy tìm cơ sở. Lúc này cả người anh đầy thương tích, răng gãy, mặt sưng húp, người gầy rộc vì ít được ăn (mỗi ngày địch chỉ cho anh ăn một lần). Tra tấn thất bại, tên mật thám chuyển sang mua chuộc, dụ dỗ. Hắn bày ra một bữa tiệc, mời anh dự gọi là để “xin lỗi” vì những tên cộng sự đã xâm phạm đến thân thể của một trí thức do hắn không hề biết việc này. Hồng Quang ngồi im nghe những lời đường mật khả ố của hắn. Bỗng anh co chân đạp mạnh hất tung cả bàn tiệc về phía hắn. Quetsnoy hèn hạ bỏ chạy. Sau việc này Hồng Quang bị đẩy vào xà lim và tiếp tục bị tra tấn dã man hơn.
Thấy sức khoẻ của anh quá suy kiệt do bị đánh đập tàn nhẫn hàng tháng trời, địch đưa một viên bác sỹ già người Pháp từ Hà Nội về đến thăm sức khoẻ và dụ dỗ thêm. Hồng Quang lúc này rất yếu, nhưng anh cố gắng giải thích cho viên bác sỹ nghe vì sao anh phải làm cách mạng chống lại bọn Pháp ở Đông Dương mặc dầu anh rất hâm mộ nền văn hoá Pháp, hâm mộ cuộc cách mạng 1789 của nhân dân Pháp. Viên bác sỹ già không nói thêm điều gì và lặng lẽ ra về.
Song bọn đế quốc biết vai trò của anh trong tổ chức cách mạng, trong Đảng Cộng sản nên chúng cố khai thác bằng mọi cách. Chúng đưa cả cha, mẹ anh đến xà lim để dỗ dành anh. Thấy anh quá tiều tuỵ, quần áo rách nát, da mốc và nhăn nheo như da cau, người gầy rạc, máu me khắp nơi…, mẹ anh oà khóc, nhưng anh cố khuyên mẹ đừng khóc “Bọn Tây nó cười cho”. Lời cuối cùng của Hồng Quang với mẹ là: “Con có chết nhưng nước mình nhất định sẽ độc lập, thầy mẹ, đồng bào ta và các em con sẽ được tự do, hạnh phúc”.
Trước lúc hy sinh, Nguyễn Văn Trạch (Hồng Quang), người sinh viên yêu nước nồng nàn, người chiến sỹ cộng sản kiên trung cắn tay lấy máu viết lên tường nhà lao: “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm”. Hồng Quang đã để lại nhiều bài thơ hay ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi Đảng và gửi cho gia đình, bè bạn, nhất là người vợ yêu quý những tình cảm nồng thắm và khí phách hiên ngang của người sinh viên cách mạng.
                                                                                                                                HẾT CHƯƠNG II

Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
 Mua thiết bị định vị: http://adsun.vn/, thiết bị dạy nghề,Giá hộp đen ô tô tải định vị, tin tức kinh doanh, Máy chạy bộ điện, vai ao dai, tu dong cu, Can ho vincity quan 9

Huyện đoàn Vĩnh Linh

TIN MỚI