Chào mừng Đại hội Đoàn cấp cơ sở, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Vĩnh Linh lần thứ XVI - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, sáng tạo, thi đua lập thân, khởi nghiệp, xung kích, tình nguyện xây dựng quê hương giàu đẹp - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, thi đua rèn đức, học tập, lao động, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ quê hương                     
10:36 ICT Thứ hai, 24/04/2017

THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

LIÊN KẾT WEBSITE

Website NTLS Trường Sơn
Đoàn Dân Chính Đảng
cho thue xe 4 cho, thue xe

Trang nhất » TIN TỨC » Đoàn TNCS Hồ Chí Minh » Lịch sử Hội LHTN Việt Nam

CHƯƠNG VIII: NHỮNG THÀNH TỰU MỚI TRONG SỰ NGHIỆP KHÔI PHỤC, CẢI TẠO, PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ - NGỤY Ở MIỀN NAM. ĐẠI HỘI LẦN THỨ II HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM

Thứ sáu - 17/09/2010 09:55 | Đã xem: 2770

Sau thời gian khôi phục kinh tế với những thành tựu ban đầu, miền Bắc đã có sự chuyển biến quan trọng. Để tiếp tục đưa đất nước đi lên, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và thành phần kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh- lực lượng chủ đạo của toàn bộ nền kinh tế nước nhà.
Phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền Bắc. Theo chủ trương của Đảng, hợp tác hoá nông nghiệp được kết hợp chặt chẽ với cải tiến kỹ thuật và phát triển sản xuất, hợp tác hoá đi đôi với thuỷ lợi hoá và tổ chức lại sản xuất, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Lao động tập thể đã giúp cho đoàn viên, thanh niên khắp các vùng nông thôn miền Bắc phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và đã đổi thay dần cả một nếp sống, một phong cách lao động thụ động xưa cũ.
Thanh niên nông thôn không chỉ tham gia và góp phần mở rộng, củng cố phong trào hợp tác hoá nông nghiệp mà còn tích cực tham gia đẩy mạnh sản xuất, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp. Trong đó, thuỷ lợi được coi là biện pháp hàng đầu và cũng là nơi có nhiều khó khăn, gian khổ nhất, đòi hỏi sự sáng tạo, lòng dũng cảm và bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ. Các cấp Đoàn và Hội như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên đã động viên hơn một chục vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia xây dựng công trình đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải để dẫn nước sông Hồng về tưới cho đồng ruộng các địa phương trên. Ngày 20-9-1958, Bác Hồ đã trực tiếp đến thăm công trình này, Người ân cần căn dặn: “Cán bộ và đồng bào phải có quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Công trình Bắc – Hưng- Hải thành công thì mỗi năm đồng bào đỡ mấy triệu công chống hạn, thu hoạch lại tăng thêm…Đảng viên và Đoàn Thanh niên phải xung phong “làm đầu tàu, làm gương mẫu”…”
Làm theo lời Bác dạy, hàng trăm đội Thanh niên xung kích đã ra đời, xông pha đảm nhận những công việc ở những nơi gian khổ nhất. Thi đua với đoàn viên, thanh niên ở công trình Bắc – Hưng – Hải, tuổi trẻ nông thôn miền Bắc đã đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi, đào mương, đắp đập, hoàn chỉnh các hệ thống nông giang, đảm bảo đủ nước, chủ động tưới tiêu cho đồng ruộng.
Chỉ trong 3 năm (1958- 1960) cải tạo và phát triển kinh tế ở miền Bắc, tuổi trẻ nông thôn đã đóng góp 72,25 triệu ngày công lao động, đào đắp 116,2 triệu m3 đất đá để xây dựng các công trình thuỷ lợi; phục vụ thâm canh tăng năng suất, góp phần giải quyết cơ bản nạn hạn hán, úng lụt kéo dài.
Phong trào làm phân bón, cải tiến công cụ, khai hoang phục hoá… cũng thu hút hàng triệu đoàn viên, thanh niên nông thôn miền Bắc tham gia. ở ngoại thành Hà Nội, đoàn viên Nguyễn Thị Hoàn đã nêu kỷ lục “Kiện tướng nghìn cân” và chỉ trong một thời gian ngắn, chính Hoàn đã tự phá kỷ lục từ 1000 kg đến 3000 kg rồi 6000 kg/ tháng. Khắp các vùng nông thôn miền Bắc, tuổi trẻ đã noi gương, thi đua cùng kiện tướng Nguyễn Thị Hoàn để rồi xuất hiện hàng loạt các “Phó kiện tướng" làm phân bón trong phong trào “sạch làng tốt ruộng” ”. ở huyện Duy Tiên (Hà Nam) có Lê Thị Mến đạt 4000 kg. ở Nam Định có Cao Thị Min đạt 5200 kg… Các chi đoàn Đông Phong (Hòa Bình); chi đoàn Minh Long (Thái Bình) “Các kiện tướng Nguyễn Thị Hoàn, Lê Văn Đây (thương binh cụt một tay), Sân Mỹ Mây (nữ dân tộc thiểu số), Trần Danh (thiếu niên) đã được vinh dự nhận phần thưởng của Bác Hồ về thành tích làm phân bón”.
Phong trào cải tiến công cụ, cải tiến kỹ thuật của thanh niên nông thôn cũng được khởi xướng và đã thu được những thành tựu ban đầu. Tiêu biểu là tấm gương của đoàn viên Phạm Trung Pồn (Người Tày) xã Bế Triều, tỉnh Cao Bằng. Anh bị mù cả hai mắt vẫn dám nghĩ, dám làm, kiên trì cải tiến được tới 11 loại công cụ cầm tay như cày 51 thay cho cày chìa vôi; bừa sắt thay cho bừa tre… ở Hoà Bình, thanh niên xã Liên Phương cũng cải tiến, sử dụng 100% cày cải tiến thay cho cày chìa vôi; 90% xe thô sơ và xe cải tiến thay cho quang gánh; giải phóng cho đôi vai… Phương pháp ủ chua thức ăn cho lợn; ngâm ủ lúa giống trong nước “3 sôi 2 lạnh”… cũng được áp dụng rộng khắp các vùng nông thôn miền Bắc.
Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Chỉ tính riêng những năm học từ 1957 đến 1959 đã có “443 sinh viên và 1039 học sinh trung cấp nông nghiệp và hàng nghìn cán bộ sơ cấp kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi”.
Trong không khí thi đua tưng bừng, sôi nổi, tuổi trẻ nông thôn miền Bắc đã góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp qua các phong trào làm thuỷ lợi, làm phân bón, cải tiến công cụ, khai hoang phục hoá, học tập khoa học kỹ thuật để đưa vào áp dụng trong thực tiễn… Họ đã góp công lớn trong việc đẩy tổng sản lượng lương thực toàn miền Bắc năm 1959 đạt tới 5,15 triệu tấn. Năm 1960, dù bị thiên tai nặng vẫn đạt 4.212.000 tấn, vượt hơn năm 1957 tới 30 vạn tấn.
Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân, thanh niên xung phong đã lao động dũng cảm, góp phần khôi phục, phát triển hệ thống giao thông, nhà máy, xí nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp. Để kịp thời tổ chức và động viên tuổi trẻ phát huy vai trò của mình, Trung ương Đoàn; Trung ương Hội đã phát động phong trào “Lao động kiến thiết Tổ quốc”, đồng thời mở thêm một số cuộc vận động như: Làm đúng giờ, chống tham ô, lãng phí…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn viên, thanh niên công nhân tham gia tích cực vào công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế và xây dựng đất nước.
Trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, hầm mỏ… ngày càng xuất hiện nhiều gương sáng đoàn viên, hội viên, thanh niên đầy nhiệt huyết. ở Hà Nội, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo được sửa chữa, khôi phục sau cuộc hành trình di chuyển gian khổ từ Việt Bắc về Thủ đô; nhà máy xe lửa Gia Lâm; nhà máy điện Yên Phụ… sau những cuộc giằng co quyết liệt với giới chủ để giữ gìn, bảo vệ máy móc, thiết bị từ những năm 1955-1958, nay được các đoàn viên, hội viên, thanh niên góp hàng vạn ngày công lao động để khôi phục, sửa chữa, vận hành với công suất ngày càng cao…
Trong 3 năm (1958-1960), với tinh thần “Lao động kiến thiết Tổ quốc” và “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm”…đoàn viên, thanh niên công nhân Hà Nội đã có "4.995 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất từ 10 đến 200 % và thu nhặt được trên 628 tấn nguyên vật liệu…Nhiều điển hình cá nhân như Nguyễn Thế Nghĩa, công nhân nhà máy cơ khí Gia Lâm trong một năm có 10 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, trong đó có sáng kiến tăng năng suất 900% và đã trở thành lá cờ đầu của thanh niên công nhân miền Bắc”.
ở các tỉnh, thành khác trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đoàn viên, hội viên và thanh niên công nhân đã phát huy tính tiên phong của giai cấp công nhân, hăng hái tham gia ngày “Lao động kiến thiết Tổ quốc”; ngày “Lao động xã hội chủ nghĩa” và các phong trào “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”…để cải tạo và phát triển nhanh chóng các nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh. Đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân Hải Phòng đã đóng góp được 2030 sáng kiến; đoàn viên, thanh niên công nhân khu mỏ Hồng Quảng (Quảng Ninh) luôn đi đầu trong sản xuất, vận chuyển than, tiết kiệm được 2,8 triệu đồng; đoàn viên, hội viên và thanh niên công trường khai thác đá Sơn Tây với nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đã làm lợi cho xí nghiệp 6 triệu đồng, được Bác Hồ gửi thư khen…
Sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc đã tạo ra môi trường rộng lớn cho tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành, mở ra con đường tươi sáng đi tới tương lai. Nếu trong 3 năm đầu (1955-1957) khôi phục kinh tế có 6 vạn thanh niên tình nguyện đến các công trường đầy cam go, thử thách thì đến 3 năm (1958-1960) cải tạo, xây dựng, phát triển kinh tế đã có tới 20 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tình nguyện đến với các công trình. Điển hình là các đội Thanh niên xung phong, các đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Đông Anh; tuyến đường bộ 12B Hoà Bình; các nhà máy Suppe Phốt phát Lâm Thao, Lò cao số 1 khu gang thép Thái Nguyên…
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp trong thời kỳ cải tạo, phát triển kinh tế, đời sống văn hoá, tinh thần của tuổi trẻ và nhân dân miền Bắc cũng không ngừng được nâng cao. Những nọc độc của chủ nghĩa thực dân từng bước được loại trừ. Đặc biệt, việc nâng cao trình độ học vấn cho đoàn viên, thanh niên được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa tiếp tục được mở rộng, thu hút ngày càng đông tuổi trẻ và bà con lao động. Các đội “Thanh niên xung kích diệt dốt”, các “Trại hè diệt dốt” được tổ chức ở khắp nơi và phát huy hiệu quả. Chỉ tính riêng năm 1958, ở Thanh Hoá đã có 30.417 đoàn viên, thanh niên tham gia trong 9273 tổ “xung kích diệt dốt”. Bởi vậy, đến 30-10-1958, tỉnh Thanh Hoá đã thanh toán xong nạn mù chữ cho cả thanh niên và nhân dân.
Còn ở tỉnh miền núi Hoà Bình, đến năm 1960 đã có 96% số người trong độ tuổi biết đọc, biết viết. Đây cũng là tỉnh miền núi đầu tiên thanh toán được cơ bản nạn mù chữ ngay trong thời kỳ 1958-1960.
Được Đảng, Bác quan tâm, được sống, lao động và học tập trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tuổi trẻ đã hăng hái, say mê đi đầu trong sự nghiệp củng cố, phát triển ngành giáo dục. Đến tháng 12-1958 trên toàn miền Bắc đã có 95% nhân dân từ 12 đến 45 tuổi biết đọc, biết viết. Năm học 1959- 1960, miền Bắc đã có 1.460.596 học sinh phổ thông (gấp 3,5 lần năm 1939-1940 của toàn Đông Dương); 16.000 học sinh trung học chuyên nghiệp (gấp 4 lần) và 8.479 sinh viên đại học (gấp 14,6 lần năm học 1939-1940 toàn Đông Dương) và gần 2000 học sinh, sinh viên được cử đi học ở nước ngoài.
Để giáo dục và nâng cao nhận thức về Đảng, Bác và những phẩm chất cao đẹp của người cộng sản cho tuổi trẻ, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng (3/2/1930- 3/2/1960) và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đầu năm 1960, Trung ương Đoàn đã mở cuộc vận động: “Sống, làm việc, học tập, theo gương những người cộng sản”. Đây là một cuộc vận động lớn nhằm bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về lý tưởng, nâng cao ý chí phấn đấu, rèn luyện theo gương Bác Hồ kính yêu, theo gương những anh hùng, liệt sỹ, những chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi đã cống hiến trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho nhân dân, cho Tổ quốc.
Tháng 3 năm 1960, Đại hội “Thanh niên tích cực lao động XHCN” được triệu tập tại Hà Nội. Đại hội đã biểu dương những cống hiến to lớn của tuổi trẻ trong thời kỳ cải tạo và phát triển kinh tế - văn hoá xã hội ở miền Bắc đồng thời tổng kết những kinh nghiệm để hướng phong trào thanh niên tiếp tục đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước. Đại hội đã chính thức phát động phong trào thi đua: “Trở thành người lao động tiên tiến, tổ tiên tiến, đơn vị tiên tiến”. Ngày 17-3-1960, Đại hội vinh dự được đón Bác Hồ tới thăm và nói chuyện thân mật. Bác đã ân cần chỉ bảo: “Hiện nay có hơn 60 vạn đoàn viên, thanh niên lao động và miền Bắc có độ 4 triệu thanh niên, nhưng số thanh niên tích cực lao động XHCN chỉ có hơn 10 vạn. Thế là trong 6 đoàn viên và 40 thanh niên mới có một người tích cực. Như thế là phong trào còn hẹp. Đoàn Thanh niên Lao động phải cố gắng thêm và các cấp Đảng bộ phải giúp đỡ Đoàn Thanh niên phát triển phong trào hơn nữa”.
Trong khí thế phấn khởi, sôi nổi của tuổi trẻ và nhân dân miền Bắc thi đua lao động sáng tạo, khôi phục, phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội thì tuổi trẻ và nhân dân miền Nam lại ngày đêm quyết liệt trong đấu tranh chính trị, vũ trang, trong phong trào chống lại luật 10-59 của Mỹ- Diệm.
*
* *
Những năm 1958-1960, trên khắp các tỉnh thành miền Nam, làn sóng đấu tranh cách mạng ngày càng quyết liệt, mạnh mẽ, ào ào như vũ bão. Mỹ Diệm đã thẳng tay đàn áp, khủng bố, trả thù những người tham gia kháng chiến; vô cớ bắt giam, đánh đập, giết hại những người có chồng con, anh em, bố mẹ tập kết ra miền Bắc. Chúng còn huyênh hoang tuyên bố: “Bôi đen bọn trẻ để cộng sản không nhuộm đỏ lại được” với những chiêu bài: “Độc lập”, “Quốc gia”, “Tự do”, “Dân chủ”, “Nhân vị, duy linh”… và lớn tiếng hô hào: “Bắc tiến, lấp sông Bến Hải”… Chúng đã tăng cường bắt lính, đôn quân, ban hành luật quân dịch, khuyến khích thanh niên trí thức vào các trường sĩ quan và dùng mọi thủ đoạn hèn hạ, kể cả việc cố ý đánh hỏng hàng loạt thí sinh thi tú tài phần I để đẩy họ vào các trường hạ sĩ quan hoặc bắt lính…
Trước tình thế đó, các tổ chức cách mạng miền Nam đã lãnh đạo nhân dân và thanh niên đấu tranh chống bắt lính, đôn quân. ở khắp các tỉnh, thành, hàng chục nghìn thanh niên đã kề vai sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân kéo lên các dinh quận trưởng, đấu tranh đòi hoãn quân dịch, đòi giải thoát cho những thanh niên đã bị bắt lính. ở khu trù mật Hậu Nghĩa (Long An) có nữ đồng chí Tư Vân - cán bộ thanh vận quận, đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải thoát cho 100 thanh niên bị bắt vào lính. ở quận An Khê (Plâycu), thanh niên được vận động trốn ra ở rừng, địch không bắt được lính và cũng không có cớ để đốt làng…
Cùng với phong trào chống bắt lính, phong trào xin gia nhập bộ đội cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều gia đình tha thiết xin cho con đi bộ đội đánh giặc vì: “Thà lên cứ ăn ở kham khổ, thiếu đói mà được đánh giặc còn hơn ở nhà ăn uống đầy đủ mà bị bắt lính…”. Nhiều thiếu niên chưa đủ tuổi đi bộ đội cũng trốn gia đình lên cứ cùng các cô chú và nằng nặc đòi được đi đánh Mỹ-Diệm… Phong trào tòng quân náo nức của thanh niên miền Nam đã giúp cho lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam ngày càng lớn mạnh, từ dân quân du kích xã đến các đội vũ trang huyện, tỉnh, liên tỉnh. Nếu tháng 10 năm 1957 mới có một đơn vị vũ trang chính quy đầu tiên (Đại đội 250) ra đời ở chiến khu Đ Nam Bộ thì đến năm 1958, liên tỉnh Trung Nam Bộ (khu 8) đã có 3 đại đội ở vùng Đồng Tháp Mười; liên tỉnh Tây Nam Bộ (khu 9) có 3 đại đội… Đến năm 1959, nhiều tỉnh thành đã lập được đơn vị vũ trang tuyên truyền như Tiểu đoàn 14 Tây Ninh; Tiểu đoàn “Lá thép” Lâm Đồng; Tiểu đoàn 7 Bến Tre, đội nữ pháo binh Châu Thành, Đội Thanh niên xung phong Hoàng Lệ Kha… Đặc biệt, có nhiều cơ sở nội tuyến đã khởi nghĩa diệt chỉ huy ác ôn, mang súng trở về căn cứ như đồng chí Bảy Nghĩa ở Đông Lung Lớn (Hà Tiên), còn ở Tây Ninh thì làm binh biến tại đồn Tràng Cỏ, đồn Băng Dung…
Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam cũng ngày càng quyết liệt. Khắp các trường học, Ban cán sự học sinh, sinh viên được thành lập đưa các kiến nghị đòi tăng học bổng, đòi bỏ lệ phí thi cử, đòi giảm học phí… Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của Ban Cán sự học sinh, sinh viên Sài Gòn vào tháng 2–1958. Một số trong Ban Cán sự bị địch bắt, hàng nghìn học sinh, sinh viên đã kéo đến toà án nguỵ biểu tình đòi trả tự do cho học sinh, sinh viên...
Đặc biệt, tới đêm 10 rạng sáng 11-11-1958, lực lượng vũ trang miền Nam đã mở đầu một trận tập kích lớn vào quận lỵ Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một), đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, diệt 200 tên, bắt 30 tên nguỵ và thu 200 súng. Vô cùng hoảng sợ, sĩ quan và quân lính của 20 đồn bốt chung quanh quận lỵ Dầu Tiếng đã đồng loạt bỏ đồn rút chạy. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, góp phần thổi bùng lên phong trào cách mạng đang ngày càng mạnh mẽ dâng lên khắp miền Nam. Thua đau ở Dầu Tiếng và hốt hoảng trước phong trào đấu tranh cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, bọn Mỹ-Diệm đã điên cuồng đàn áp, khủng bố! Điển hình là vụ đầu độc dã man hàng ngàn cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước ở trại giam Phú Lợi ngày 1-12-1958. Trong 6000 người ở trại giam thì có tới 1000 người đã chết ngay vì trúng độc. Cả miền Nam, cả Việt Nam và cả thế giới đã phẫn nộ lên án vụ đầu độc tàn bạo này. Phong trào “Trả thù cho đồng bào, đồng chí ở Phú Lợi” sôi sục khắp miền Nam.
Đến năm 1959, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã hình thành ba thứ quân (tự vệ, du kích xã; đội vũ trang huyện, tỉnh; tiểu đoàn tập trung ở khu) khắp các vùng. Xứ uỷ Nam Bộ và Liên khu uỷ V chỉ đạo tăng cường các hoạt động vũ trang hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp, giành quyền làm chủ, chống cướp đất, dồn dân lập các khu trù mật, ấp tân sinh, khu dinh điền…
Điên cuồng và hoảng sợ trước làn sóng cách mạng như triều dâng ở miền Nam, đầu năm 1959 Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh đồng thời chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố, trả thù những chiến sỹ cách mạng, những gia đình có con em tham gia cách mạng. Đặc biệt, với luật 10-59 cực kỳ tàn bạo, chúng lập toà án lưu động, kéo lê máy chém đi khắp miền Nam để “xét xử” những người yêu nước chỉ với hai mức án là tử hình và khổ sai chung thân. Chỉ tính tới cuối năm 1959, kẻ thù đã giết hại 68.000 người, bắt 466.000 người và đẩy 400.000 người vào chốn tù đầy…
Trong không khí sôi sục căm thù và trước xu thế vùng dậy mạnh mẽ của quần chúng, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (Khoá II) đã họp ngày 13-1-1959 để xác định đường lối và nhiệm vụ cách mạng cơ bản ở miền Nam giai đoạn hiện tại và sắp tới là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Hội nghị còn khẳng định: “Ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xích xiềng nô lệ. Chỉ có thắng lợi của cách mạng mới chấm dứt cảnh cùng khổ của nhân dân miền Nam, mới triệt để làm thất bại mọi chính sách nô dịch, chia cắt và gây chiến của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam”.
Trong Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 còn ghi rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực…lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang, đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.
Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có ý nghĩa lịch sử to lớn, “mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, làm xoay chuyền tình thế, dẫn đến cuộc “Đồng khởi” oanh liệt toàn miền Nam năm 1960”.
Thực hiện chủ trương của Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, hàng loạt các đơn vị đặc biệt được thành lập. Đó là Đoàn 559 - đơn vị vận tải quân sự dọc Trường Sơn. Đó là Đoàn 759 - đơn vị vận tải quân sự vượt biển Đông. Các đơn vị anh hùng này đã viết nên những trang huyền thoại của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đường Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn, trên trùng khơi vượt biển Đông trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc.
Hàng nghìn, hàng nghìn thanh niên dân tộc thiểu số Bình Trị Thiên và Tây Nguyên đã cùng mở đường, cùng gùi hàng với các chiến sĩ Đoàn 559 “Vì miền Nam tiến lên phía trước”. Hàng nghìn, hàng nghìn các cô gái, các chàng trai vùng biển đã chở che, đã kiên cường cùng các chiến sỹ của những đoàn tàu không số chở hàng chục tấn vũ khí, hàng hoá tiếp sức cho miền Nam thành đồng.
Phong trào đồng khởi của nông thôn miền Nam bùng nổ khắp nơi. Tháng 8-1959, 16.000 nhân dân huyện Trà Bồng (miền Tây Quảng Ngãi) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang đã nổi dậy đập tan nguỵ quyền ở 16 xã, bức rút 7 đồn, diệt hàng trăm tên tề nguỵ ác ôn, lập chính quyền cách mạng ở thôn, xã. Tên quận trưởng Trà Bồng phải chạy trốn về tỉnh lỵ. Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan sang các vùng Sơn Hà, Ba Tơ, Đức Phổ… (Quảng Ngãi).
Tháng 9-1959, du kích Bắc ái (Ninh Thuận) đã đánh bại cuộc càn quét của 3000 quân nguỵ, diệt hơn 300 tên…
Cũng tháng 9-1959, ở Gò Quản Cung, tỉnh Kiến Phong, lực lượng vũ trang cách mạng đã tiêu diệt một tiểu đoàn nguỵ, bắt sống 105 tên địch, thu 705 súng; ở chi khu Xẻo Rô (Rạch Giá), một đơn vị vũ trang đã tiêu diệt gọn quân địch ở chi khu và giải phóng nhiều tù chính trị…
Tháng 1-1960, Tỉnh uỷ Bến Tre quyết định phát động “Tuần lễ toàn dân đồng khởi”, phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng. Huyện Mỏ Cày được chọn làm điểm mở đầu đã chiến thắng vang dội. Tuổi trẻ và nhân dân Mỏ Cày (Bến Tre) với vũ khí thô sơ, tự tạo đã nhất tề nổi dậy, diệt ác, phá đồn, đập tan bộ máy cai trị của địch ở thôn, xã. Phong trào đồng khởi đã lan nhanh sang các huyện Thạch Phú, Bình Đại, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri…Chỉ sau một “Tuần lễ toàn dân đồng khởi”, ở tỉnh Bến Tre đã có 22 xã được giải phóng, 29 xã đã diệt ác, vây đồn giải phóng nhiều ấp. Chính quyền tự quản và lực lượng vũ trang cách mạng được thành lập ở các vùng giải phóng…
Phong trào đồng khởi đã lan rộng khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đập tan phần lớn bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở. Đêm 25-1-1960, lực lượng vũ trang Long An đã nhanh chóng diệt đồn Đức Lập, Đức Hoà, mở đầu đồng khởi ở một tỉnh sát nách Sài Gòn. ở Mỹ Tho, Gò Công, nhân dân 19 xã thuộc Cai Lậy, Châu Thành cũng đồng loạt nổi dậy.
ở Bạc Liêu, Cà Mau, nhân dân cùng lực lượng vũ trang diệt gọn chi khu quận lỵ Ông Đốc, san bằng 62 đồn, giải phóng 55 xã. ở Rạch Giá, Sóc Trăng quân ta bức rút 50 đồn, giải phóng 28 xã, 300 ấp…
ở căn cứ Tua Hai (Tây Ninh) đêm 25 rạng 26-1-1960 quân ta cũng tiêu diệt và bắt sống 500 tên nguỵ, thu 1.500 súng. Bọn tề, nguỵ hoang mang, nhân dân cùng tuổi trẻ Tây Ninh nhất tề nổi dậy giải phóng 24 xã trong tỉnh…
ở Thủ Dầu Một, trong năm 1960 cũng có 25 xã/ 60 xã được giải phóng.
ở tỉnh Bà Rịa, đêm 2-3-1960 quân ta đột nhập Bình Ba diệt 3 đồn địch, các huyện Long Đất, Châu Thành, Xuyên Mộc… đồng loạt nổi dậy diệt tề, vây đồn.
“Tính đến cuối năm 1960, cao trào đồng khởi của quân dân miền Nam đã căn bản làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở địch ở nông thôn. Nhân dân đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã 2.627 xã toàn miền Nam, đồng thời làm tê liệt chính quyền xã của Mỹ – Diệm… Ba thứ quân của lực lượng vũ trang (tự vệ, du kích xã; đội vũ trang tỉnh, huyện; tiểu đoàn tập trung ở khu) đã hình thành rộng khắp và phát triển. Các đội tự vệ, du kích xã có khoảng 10.000 người: …Các đội vũ trang tỉnh, huyện có: 12.500 người… Các đơn vị bộ đội tập trung của khu có 3.034 người…”.
Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam cũng phát triển mạnh mẽ. Mở màn là cuộc đình công tháng 1 năm 1960 của 8.600 công nhân đồn điền cao su Biên Hoà; tiếp đó là cuộc đình công của 1000 công nhân Sài Gòn đúng ngày Quốc tế Lao động 1-5-1960. Đặc biệt, ngày 20-7-1960, hàng vạn quần chúng ở các đô thị miền Nam đã xuống đường biểu tình đòi “đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”, đòi quyền dân sinh, dân chủ…
Tháng 8-1960 có 500 thanh niên trại huấn luyện Thanh niên cộng hoà ở Tiên Phước, Quảng Nam bỏ trại trốn về gia đình.
Tháng 9-1960, hơn 20.000 đồng bào Khơme (trong đó có 2.000 sư sãi) tỉnh Trà Vinh kéo vào thị xã đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh và quyền tự do tín ngưỡng.
Tháng 10-1960, hơn 60.000 đồng bào tỉnh Bến Tre kéo vào thị xã đấu tranh đòi huỷ bỏ luật 10/59…
Trong năm 1960, trên khắp miền Nam có tới 10 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị với các hình thức phong phú như bãi công, bãi thị, mít tinh, biểu tình…
Phong trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị ở miền Nam những năm 1958-1960 với cao trào đồng khởi năm 1959-1960 đã góp phần quyết định chuyển cách mạng miền Nam “từ tư thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công”.
Đây là một thời kỳ rất quan trọng của cách mạng miền Nam, tạo cơ sở vững chắc để quân dân miền Nam đánh tan chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ những năm 1961-1964. Một thời kỳ mới của cách mạng miền Nam bắt đầu: Thời kỳ tiến công liên tục và mạnh mẽ vào các chiến lược, chiến thuật của địch nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, phát triển lực lượng cách mạng, tạo tiền đề cho cách mạng miền Nam từng bước tiến lên.
Được thử thách và rèn luyện trong các phong trào cách mạng, tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên ở miền Nam nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam là thành viên của Mặt trận. Ngày 9-1-1961, Hội Liên hiệp Sinh viên giải phóng cũng được thành lập. Sự ra đời liên tiếp của các tổ chức Hội trong bão táp cách mạng miền Nam đã đánh dấu bước trưởng thành, phát triển mới của phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên miền Nam.
*
* *
Trong công cuộc khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chính trị, vũ trang ở miền Nam, tuổi trẻ cùng nhân dân hai miền Nam-Bắc đã giành được những thành tựu đáng phấn khởi. Khí thế thi đua lập công náo nức trên mọi nẻo đường của Tổ quốc.
Trong không khí ấy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã được tổ chức trọng thể tại Thủ đô Hà Nội vào tháng 9-1960. Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng: “Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà” Đại hội đã thông qua phương hướng và nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965) nhằm phấn đấu từng bước xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá nước nhà. Đại hội còn chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên là: “Phải hết sức chú trọng giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ thành những chiến sỹ trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, sẵn sàng mang hết nhiệt tình của tuổi trẻ tham gia xây dựng xã hội mới”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã soi đường, chỉ lối cho tuổi trẻ và nhân dân hai miền Nam-Bắc thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình trong giai đoạn cách mạng mới. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử vinh quang mà Đảng đã tin cậy trao cho Đoàn và thanh niên cả nước, Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam lần thứ III đã được triệu tập tại Hà Nội từ ngày 23 đến 25-3-1961. Tham dự Đại hội có 677 đại biểu của 34 đơn vị, tập thể thay mặt cho 78 vạn đoàn viên trong cả nước. Trong số các đại biểu có 3 Anh hùng, 77 chiến sỹ thi đua, 30 đại biểu dân tộc thiểu số, 122 đại biểu nữ. Đến dự với Đại hội còn có 13 đoàn đại biểu thanh niên quốc tế như: Liên Xô, Triều Tiên, Mông Cổ, Đức, Tiệp Khắc, Bungari, Rumani, Inđônêxia, Hội Liên hiệp Thanh niên Dân chủ Thế giới…
Đại hội vinh dự và vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ kính yêu cùng các đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất BCH TW Đảng và các đồng chí trong Bộ Chính trị tới dự. Nói chuyện với Đại hội, Bác Hồ đã bày tỏ niềm vui trước sự trưởng thành của Đoàn: “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng, đến nay chúng ta đã có 78 vạn đoàn viên, thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc, tiến bộ đó làm cho Bác sung sướng và trẻ lại, làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở mùa xuân”. Bác còn ân cần căn dặn: “Đoàn Thanh niên cần phải làm đầu tầu, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: Đâu Đảng cần, thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III đã xác định rõ nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: “Đoàn kết thanh niên, tổ chức mọi lực lượng, giáo dục thanh niên trong cả nước tiến lên dưới ngọn cờ của Đảng, cống hiến hết sức mình, phấn đấu hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ lịch sử mà Đảng đề ra…Tất cả mọi hoạt động của Đoàn và thanh niên nước ta đều cần hướng vào việc thực hiện những nhiệm vụ cách mạng của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.
Đại hội đã nhất trí cao bản Báo cáo chính trị do đồng chí Nguyễn Lam-Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trình bày và Báo cáo dự thảo sửa đổi Điều lệ Đoàn do đồng chí Vũ Quang trình bày. Đặc biệt, Đại hội đã thông qua quyết định lấy ngày 26-3 hàng năm làm ngày kỷ niệm của Đoàn.
Đại hội cũng thông qua Quyết tâm thư gửi lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ, hứa: “Đoàn sẽ cố gắng hết sức mình làm cho phong trào “Tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trở thành phong trào rộng rãi trong thanh niên”.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm: 71 đồng chí, trong đó có 15 đồng chí tham gia Ban Thường vụ và 5 đồng chí tham gia Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu lại làm Bí thư Thứ nhất, Ban Chấp hành TW Đoàn. Sau khi đồng chí Nguyễn Lam được Đảng điều đi nhận nhiệm vụ mới, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khoá III) họp từ ngày 21-2 đến 23-2-1962, đồng chí Vũ Quang được Hội nghị bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.
Sau Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III, một không khí thi đua mới trong tuổi trẻ đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực: Phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965)" do Đại hội phát động đã phát triển rộng khắp.
Trong không khí phấn khởi hoàn thành thắng lợi kế hoạch năm 1960-1961- năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc, trong cao trào đấu tranh anh dũng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II đã được tổ chức từ 18-12 đến 20-12-1961 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có hơn 400 đại biểu của các tổ chức và tầng lớp thanh niên. Đại hội đã vinh dự được đón Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các đồng chí đại diện Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại diện Chính phủ, Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tới dự. Trong bài nói chuyện với Đại hội, Bác Hồ đã bày tỏ tình yêu mến và niềm tin đối với thanh niên. Bác nói: “Bác rất yêu quý thanh niên.
- Vì thanh niên là người tiếp sức mạnh cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai- tức là các cháu nhi đồng.
- Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Về nông nghiệp, số đông “kiện tướng” làm thủy lợi, làm phân bón, vỡ đất hoang, cải tiến nông cụ… đều là thanh niên. Về công nghiệp, trong phong trào cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, thanh niên cũng là người xung phong. Về văn hoá, trong công việc xoá nạn mù chữ, bổ túc văn hoá, thi đua 2 tốt thanh niên cố gắng nhiều và có công nhiều…
- Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc.
- Vì trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu: “Đâu cần, thanh niên có, việc gì khó, thanh niên làm”.
- Vì hai người đầu tiên chinh phục vũ trụ: Hai anh hùng Liên Xô, đồng chí Gagarin và đồng chí Titốp cũng là thanh niên”… Bác còn căn dặn: “Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Như vậy là thanh niên ta góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm nền tảng vững mạnh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.
Trong bài nói chuyện với Đại hội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Đại hội này của các đồng chí có ý nghĩa quan trọng, nó thể hiện lực lượng to lớn và ngày càng to lớn của thanh niên, thể hiện khối đoàn kết nhất trí của thanh niên cũng như của toàn thể nhân dân ta… Thanh niên là người được hưởng nhiều nhất thành quả của cách mạng… Thanh niên là người có tiền đồ vô cùng tốt đẹp dưới chế độ ta. Tiền đồ của thanh niên gắn liền với tiền đồ của nhân dân, của đất nước… Sự cống hiến của thanh niên phải xứng đáng với phần hưởng thụ của mình. Thanh niên phải có nghĩa vụ đối với các thế hệ trước đây đã hy sinh phấn đấu đem lại thắng lợi ngày nay, có nghĩa vụ với nhân dân hiện giờ đang hết lòng chăm lo săn sóc cho mình và có nghĩa vụ đối với các thế hệ con cháu ngày sau”.
Đại hội đã xác định nhiệm vụ chung của thanh niên trong giai đoạn này là: “Tăng cường đoàn kết và thống nhất mọi lực lượng thanh niên trong cả nước, không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ chủ nghĩa xã hội, nỗ lực học tập và rèn luyện mình trở thành những người có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hoá, có trình độ khoa học kỹ thuật và sức khoẻ, luôn ở vị trí hàng đầu trên mọi lĩnh vực hoạt động, ra sức cống hiến sức lực của tuổi trẻ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, trước mắt là hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”.
Từ nhiệm vụ chung đó, Đại hội đã xác định nhiệm vụ cụ thể của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là:
“1. Phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện hoà bình, thống nhất nước nhà.
2. Nỗ lực học tập, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, văn hoá và khoa học kỹ thuật, rèn luyện mình trở thành những con người mới của chủ nghĩa xã hội.
3. Đoàn kết và thống nhất mọi lực lượng thanh niên trong cả nước, tăng cường quan hệ hữu nghị với thanh niên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
4. Củng cố tổ chức Hội và cải tiến phương thức hoạt động của Hội thích hợp với hoàn cảnh mới, đáp ứng với yêu cầu của nhiệm vụ mới”.
Đại hội đã quyết định sửa đổi điều lệ, quy định phương hướng hoạt động của Hội và mở rộng nhiều hoạt động bằng những hình thức và phương pháp thích hợp. Đại hội đã thông qua bức thư của Đại hội gửi Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch; bản Tuyên bố về tình hình miền Nam, bức thư gửi cho thanh niên miền Nam ruột thịt và bản Hiệu triệu gửi nam nữ thanh niên trong cả nước hãy nêu cao ngọn cờ yêu nước, phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, sự thành công của cách mạng miền Nam, để mau chóng hoà bình thống nhất nước nhà, bảo vệ hoà bình tự do ở Đông Nam á và thế giới…
Bản Hiệu triệu của Đại hội toàn quốc lần thứ II Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam gửi toàn thể nam nữ thanh niên Việt Nam cho đến nay vẫn còn sục sôi, vang vọng:
"Các bạn nam nữ thanh niên thân mến!
Trong không khí sôi nổi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành thắng lợi kế hoạch năm 1961, năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong khí thế đấu tranh đang dâng lên như vũ bão của đồng bào và thanh niên miền Nam, Đại hội toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, và làm việc trong 3 ngày 18, 19, 20 tháng 12 năm 1961.
Đại hội vô cùng phấn khởi được các đồng chí đại diện Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hồ Chủ tịch đến thăm nói chuyện với Đại hội.
Đại hội đã đánh giá rất cao những thành tích của thanh niên miền Bắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đại hội nhiệt liệt biểu dương những tấm gương lao động dũng cảm quên mình, những bàn tay và khối óc sáng tạo không hề biết mệt mỏi của lớp thanh niên yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Đại hội kêu gọi các tổ chức thanh niên và toàn thể thanh niên nam nữ hãy ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tăng cường đoàn kết, không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nỗ lực học tập, rèn luyện mình trở thành những người có văn hóa, có trình độ khoa học và sức khoẻ, luôn luôn ở vị trí hàng đầu trên mọi lĩnh vực hoạt động, ra sức phấn đấu và cống hiến sức lực của tuổi trẻ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, trước mắt là hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất.
Đại hội vô cùng căm phẫn và nghiêm khắc lên án việc đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp bằng quân sự vào miền Nam nước ta, đem vũ khí, nhân viên quân sự giúp bọn tay sai khát máu Ngô Đình Diệm chém giết đồng bào ta, âm mưu dập tắt phong trào đấu tranh tự giải phóng của đồng bào miền Nam, hòng biến thanh niên và nhân dân miền Nam chúng ta thành nô lệ cho bọn đế quốc Mỹ.
Đại hội tỏ lòng khâm phục tinh thần đấu tranh kiên cường và bất khuất của thanh niên miền Nam anh hùng và vô cùng phấn khởi trước những thắng lợi vẻ vang mà thanh niên và nhân dân miền Nam đã giành được. Đại hội tin tưởng sắt đá rằng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận giải phóng miền Nam, đoàn kết trong Hội Thanh niên giải phóng miền Nam, toàn thể thanh niên miền Nam nhất định vì sự nghiệp cao cả của cách mạng, vì độc lập và thống nhất của Tổ quốc, luôn luôn nêu cao ngọn cờ yêu nước chống Mỹ - Diệm, hy sinh phấn đấu vì thắng lợi cuối cùng của dân tộc.
Các bạn nam nữ thanh niên thân mến!
Vì quyền lợi tối cao của dân tộc, vì tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ, thanh niên chúng ta ngày nay đang gánh vác những nhiệm vụ vô cùng nặng nề và quan trọng. Chúng ta hãy sẵn sàng đảm nhiệm lấy sứ mệnh quang vinh đó với lòng tự hào và niềm tin tưởng vững chắc.
Thanh niên nam nữ chúng ta hãy vì mục đích cao cả của cuộc sống, vì chủ nghĩa xã hội và thống nhất Tổ quốc mà không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước, đoàn kết lao động, học tập và đấu tranh.
Hãy ra sức học tập chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật rèn luyện mình trở thành những người lao động có tri thức và sức khoẻ, những người có phẩm chất và đạo đức cách mạng, luôn luôn biết vì lợi ích của dân tộc mà phấn đấu, những người chủ thực sự của xã hội, xây dựng lên một cuộc sống lành mạnh, tiến bộ, vui tươi.
Hãy dũng cảm đi vào cuộc sống lao động và tập thể, đem khối óc bàn tay xây dựng nên những công trình mới, những nhà máy mới, những hợp tác xã và nông trường mới, những làng mạc thị trấn mới, hãy nêu cao tinh thần thi đua xã hội chủ nghĩa, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đưa năng suất lao động lên cao, nhằm đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế; nâng cao không ngừng mức sống của nhân dân và thanh niên ta.
Hãy tăng cường đoàn kết hơn nữa, mở rộng và củng cố mặt trận thanh niên thành một lực lượng to lớn và vững chắc, xứng đáng là lớp người xung kích trên mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, vượt lên mọi khó khăn và trở lực, đề cao cảnh giác chống âm mưu phá hoại của địch, hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Hãy tiếp tục đấu tranh kiên cường và bất khuất giải phóng miền Nam khỏi ách Mỹ - Diệm, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
Thanh niên chúng ta ngày nay đang chứng kiến những chuyển biến to lớn nhất trong lịch sử loài người. Chủ nghĩa cộng sản, giấc mơ ngàn năm của nhân loại đang từng giờ, từng phút trở thành sự thực trên đất nước Liên Xô vĩ đại. Con tàu vũ trụ "Phương Đông" hiện thân của nền khoa học tiên tiến nhất trên thế giới đang mở đường cho con người đặt chân lên các vì sao. Phong trào giải phóng dân tộc ngày càng dâng lên như vũ bão, đang lay chuyển tận gốc chủ nghĩa thực dân và đế quốc. Thời đại của chúng ta là "thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới", thời đại diệt vong của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. Thanh niên chúng ta đang được sống những giờ phút quang vinh nhất của lịch sử.
Thế hệ trẻ ngày nay được vinh dự kế tục truyền thống của lớp người đi trước, những lớp người đã hy sinh phấn đấu vì độc lập và tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân loại. Chúng ta hãy tỏ ra xứng đáng là những người tiếp tục sự nghiệp anh hùng đó. Nếu trước kia cha anh chúng ta đã phải đổ bao xương máu để tiêu diệt chế độ thực dân và phong kiến thì ngày nay chúng ta hãy tiếp tục sự nghiệp của cha anh đổ mồ hôi để xây dựng lên một cuộc sống mới huy hoàng.
Vì chủ nghĩa xã hội và thống nhất Tổ quốc toàn thể thanh niên chúng ta hãy dũng cảm tiến lên!".
Đại hội đã bầu ra Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam gồm 78 đại biểu của các tổ chức và các thành phần. Giáo sư Phạm Huy Thông - Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội được bầu làm Chủ tịch Hội.
Phó Chủ tịch gồm các đồng chí:
Vũ Quang: Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam.
Nguyễn Duy Cương: Dược sĩ cao cấp, thanh niên miền Nam.
Lê Hùng Lâm: Tổng thư ký Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam.
Ban Thư ký gồm có 12 đồng chí do đồng chí Hồ Trúc Bí thư TW Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam làm Tổng Thư ký.
Các Uỷ viên gồm có 61 đồng chí tiêu biểu đại diện cho các tỉnh, thành trong cả nước.
Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II đã thành công rực rỡ, đánh dấu bước phát triển mới của mặt trận đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong cả nước, tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng trên cả hai miền Nam Bắc. Trong không khí thi đua sôi nổi hưởng ứng lời Hiệu triệu của các Đại hội Đoàn, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, ngày 3 tháng 3 năm 1962, Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ III cũng được tổ chức tại Hà Nội với trên 500 đại biểu thay mặt cho hai vạn hội viên thuộc các trường đại học và cao đẳng. Đại hội đã khẳng định: “Vì chủ nghĩa xã hội, vì thống nhất Tổ quốc, hăng hái tiến quân vào khoa học kỹ thuật, ra sức học tập với tinh thần khẩn trương, bền bỉ và sáng tạo; kết hợp chặt chẽ học tập với nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất để mau chóng nâng cao trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ trên cơ sở không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức, tác phong xã hội chủ nghĩa để trở thành những người trí thức mới của giai cấp công nhân, những chiến sỹ tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc”…
Từ Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động toàn quốc lần thứ III (3-1961) đến Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II (12-1961), Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ III (3-1962), các phong trào của Đoàn, hội viên, thanh niên và sinh viên ngày càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trong cả nước.
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, từ công việc chống úng, chống hạn, diệt trừ sâu bệnh đến công tác thuỷ lợi, thả bèo hoa dâu, làm phân bón… các hoạt động của Đoàn, Hội đều có chương trình, kế hoạch, có tiêu chuẩn, định mức, có quy trình kỹ thuật rõ ràng.
Trong công tác thuỷ lợi, các tổ chức Đoàn, Hội ở cơ sở đã mạnh dạn đảm nhận trước cấp uỷ Đảng và hợp tác xã việc cải tạo ruộng đồng, xây dựng hệ thống thủy nông, bảo đảm tưới tiêu nước theo yêu cầu, phục vụ thâm canh tăng năng suất cây trồng. ở các địa phương, những đội thuỷ lợi chuyên do Đoàn, Hội làm nòng cốt đã hình thành và phát triển nhanh chóng. Đó là những đội thuỷ lợi mang tên 202. Đến cuối năm 1963, trên toàn miền Bắc đã có trên 1 vạn đội thuỷ lợi được chuyên môn hoá. Bởi vậy, có nhiều cá nhân, đơn vị luôn đạt và vượt năng suất. Tiêu biểu là Phạm Thị Vách (Hưng Yên) luôn đi đầu trong công tác đắp đê, ngăn nước sông Hồng với nhiều sáng kiến, cải tiến, đưa năng suất của đội tăng gấp 3,5 lần chỉ tiêu. Trên các công trình thuỷ lợi, nơi nào có Phạm Thị Vách là nơi đó luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch. Sáng kiến, cải tiến của Phạm Thị Vách đã được áp dụng ở nhiều công trường thuỷ lợi, giúp các đội bạn cùng tăng năng suất. Chị đã được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lao động.
Đoàn viên, thanh niên hợp tác xã Vũ Thắng (Kiến Xương, Thái Bình) cũng trở thành lá cờ đầu về thâm canh toàn miền Bắc với tinh thần dám nghĩ, dám làm, có sáng kiến đào một con mương tiêu nước và quy hoạch, xây dựng lại đồng ruộng ở vùng quê sâu trũng thường xuyên bị ngập lụt, mất mùa. Nạn ngập úng ở xã Vũ Thắng đã được giải quyết, năng suất lúa tăng lên rõ rệt.
Trên mặt trận làm “Sạch làng tốt ruộng”, tổ chức Đoàn, Hội ở các địa phương cũng đảm bảo nhận kế hoạch, chỉ tiêu, thành lập các đội chuyên trách làm phân bón, nuôi thả bèo hoa dâu, ủ chua thức ăn nuôi lợn, trồng khoai sắn để chăn nuôi… Các đội chuyên trách đã được tập huấn kỹ thuật, thực hành các thao tác chuyên sâu và đặc biệt được khuyến khích phát huy sáng kiến, cải tiến tăng năng suất… Chỉ trong năm 1963, đã có trên 3 vạn kỹ thuật viên thanh niên trên 16 tỉnh, thành miền Bắc được tập huấn làm bèo hoa dâu. Do đó, năng suất nuôi thả bèo hoa dâu đã tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 1962, thanh niên của 11 tỉnh, thành thả được 1.750 mẫu bèo ở 393 cơ sở thì năm 1963 con số đó là 12.900 ha bèo hoa dâu được ươm thả ở 4.900 cơ sở; đến năm 1964 đã tăng lên 13.834 cơ sở ươm thả được 140.900 ha bèo hoa dâu.
Với khẩu hiệu “Sạch làng tốt ruộng” đoàn viên, hội viên, thanh niên nông thôn đã thi đua thu gom, chế biến để nâng cao chất lượng phân bón. Nhiều cơ sở Đoàn, Hội ở các địa phương đã thực hiện tốt phương thức “3 chuồng 4 hố” (Chuồng trâu bò, chuồng lợn, chuồng gà; hố rác, hố tiểu, hố xí, hố phân) để làm nhà ủ và chế biến phân bón. Đoàn viên, thanh niên còn vận động và cùng nhân dân các địa phương xây dựng được hàng vạn chuồng lợn hai bậc, hố xí hai ngăn kiểu mới và trồng được hàng nghìn ha cây muồng muồng, cây điền thanh. Tiêu biểu là đoàn viên, thanh niên thị xã Hà Đông (Hà Tây) đã trồng được 1300 mẫu muồng muồng và điền thanh trong năm 1962.
Đặc biệt, phong trào chăn nuôi phát triển, vỗ béo đàn lợn tập thể đã thu được những kết quả rực rỡ. Dẫn đầu là thanh niên ngoại thành Hà Nội từ phong trào “Đàn lợn 100 con” đến “Đàn lợn trăm con, vạn cân” đã thu hút hàng triệu đoàn viên, hội viên thanh niên nông thôn miền Bắc học tập và hưởng ứng. Anh Lương Văn Nghĩa (Thanh Trì- Hà Nội) đã say mê, sáng tạo vận dụng kiến thức phổ thông được học vào phương pháp nuôi lợn bằng thức ăn khô, giảm được cường độ lao động cho xã viên, tiết kiệm được nguyên liệu mà đàn lợn lại tăng trọng nhanh. Anh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Phương pháp ủ chua thức ăn cho lợn được các trại chăn nuôi tập thể và gia đình đặc biệt quan tâm. Đoàn viên, thanh niên các tỉnh nô nức tìm tòi, sáng tạo, thi đua có đàn lợn “trăm con, vạn cân” để tăng nguồn thực phẩm cho nhân dân, đồng thời tăng thêm nguồn phân bón cho xanh tươi đồng ruộng. ở Hoà Bình có phong trào mỗi đoàn viên, thanh niên trồng 500 gốc sắn để hỗ trợ cho chăn nuôi. ở Yên Bái, các trường trung học, cao đẳng phát động đoàn viên, thanh niên biến đồi hoang thành nương ngô, nương sắn cho đàn lợn tăng cân. ở Nam Định có phong trào “100 kg thức ăn bột cho lợn”… Và ở những địa phương này, không chỉ có những đàn lợn tập thể hàng trăm con mà đàn lợn gia đình của đoàn viên, thanh niên cũng có từ 2-3 con trở nên. Phong trào chăn nuôi đã thực sự hữu ích, có hiệu quả lớn trên toàn miền Bắc.
Để phát huy vai trò của đoàn viên, thanh niên trong công cuộc “Cải tiến quản lý hợp tác xã; cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc” do Đảng và Nhà nước khởi xướng, các tổ chức Đoàn, Hội đã chú ý tiếp thu và xin ý kiến chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền địa phương để tạo điều kiện cho các cán bộ đoàn viên, thanh niên tham gia quản lý hợp tác xã. Với sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, sự học hỏi và không ngừng tự nâng cao trình độ, nhiều đoàn viên, hội viên, thanh niên đã trở thành những cán bộ quản lý trẻ xuất sắc. Đó là các chủ nhiệm hợp tác xã tiêu biểu vừa có trình độ quản lý giỏi, vừa có chuyên môn, kỹ thuật vững vàng như Lê Văn Anh, Nguyễn Thị Song, Đỗ Tiến Hảo, Tống Thị út, Bàn Văn Mình… Đến năm 1963, số cán bộ quản lý hợp tác xã trẻ tuổi đã chiếm tới 30%. Riêng ở Nghệ An, đoàn viên, hội viên, thanh niên là đội trưởng, đội phó sản xuất chiếm 35%; cán bộ Ban quản trị hợp tác xã chiếm 25%. ở Ninh Bình, năm 1962 đã có 18,7% đoàn viên, hội viên, thanh niên trong Ban quản trị hợp tác xã, tới đầu năm 1964 là 28,2% cán bộ trẻ trong Ban quản trị hợp tác xã. ở Nam Định, năm 1962 cả tỉnh có tới 2447 đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia Ban quản trị hợp tác xã; có 1851 đoàn viên, hội viên, thanh niên là đội trưởng, đội phó sản xuất…
Phong trào xung phong tình nguyện “Phát triển kinh tế- văn hoá miền núi” cũng náo nức khắp mọi nẻo đường của các tỉnh, thành miền Bắc, nhất là các tỉnh đồng bằng và đô thị. Những tháng năm này, không ít những hình ảnh cảm động của các cô gái Hà thành với đôi guốc gỗ cùng mái tóc dài và vóc dáng mảnh mai vẫn hăm hở ngược về miền núi, đem ánh sáng văn hoá về các bản làng. Đó là Nhà giáo ưu tú Lê Thị Kim, với tuổi đời mới tròn 18 đã dũng cảm tạm biệt cha mẹ ở phố Hai Bà Trưng, Hà Nội để lên mạn ngược Lào Cai, “gùi chữ” đến từng bản làng ở Mường Khương, Bát Sát, Phố Lu… Cô giáo mảnh mai đã phải trèo đèo, lội suối, ăn ngô bung, mèn mén, tập cưỡi ngựa đến tận những bản làng heo hút nhất, vận động bà con không nuôi trâu, bò, lợn, gà dưới sàn nhà ở, không uống nước lã và động viên con em tới trường học chữ…
Được Đảng và Nhà nước quan tâm, được các tổ chức Đoàn, Hội trực tiếp chỉ đạo, phát động các phong trào thi đua, những đoàn viên, thanh niên như cô giáo Lê Thị Kim đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục. Đến năm học 1961-1962, toàn miền Bắc đã có 2.280.000 học sinh phổ thông (năm học 1957-1958 là 1.008.000 học sinh); 50.700 học sinh trung cấp chuyên nghiệp (năm học 1957-1958 là 8.300 em) và sinh viên đại học là 25.000 em (năm học 1957-1958 là 3.700 em). Đặc biệt, năm học 1961-1962 đã có 3.400 học viên theo học đại học hàm thụ tại chức mà trước đây chưa từng có. Số lưu học sinh được cử ra nước ngoài học tập hàng năm cũng tăng tới 1.500 em. Ngoài ra còn có 2 triệu người tham gia học bổ túc văn hoá từ lớp 1 đến lớp 10. Những lá cờ đầu trong ngành Giáo dục những năm 1961-1965 là: Trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam); trường cấp III Lê Hồng Phong (Nam Định); Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An); Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh); Lam Sơn (Thanh Hoá); Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên)…
Phong trào xung phong tình nguyện “Phát triển kinh tế- văn hoá miền núi” đã thu được những thành tựu đáng phấn khởi. Chỉ tính riêng năm 1962 ở 12 tỉnh, thành đã có 121.109 đoàn viên, thanh niên xung phong đi khai hoang, đi xây dựng các lâm, nông trường, các cơ sở sản xuất công, thương nghiệp, các hợp tác xã ở miền núi. Những phẩm chất cao quý của tuổi trẻ đã được khẳng định ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất. Những tấm gương tiêu biểu của các Anh hùng Lao động trẻ tuổi đã được đoàn viên, thanh niên miền Bắc nức lòng học tập. Đó là các Anh hùng Phạm Ngọc Chức (ngành Lâm nghiệp); Lâm Quang Tỉnh (đại biểu của các nông trường); Phùng Văn Bằng (ngành Giao thông vận tải)…
Phong trào xung phong tình nguyện “Phát triển kinh tế- văn hoá miền núi” còn thu hút trên 10.000 đoàn viên, thanh niên trên khắp các địa phương miền Bắc tình nguyện lên Thái Nguyên xây dựng khu Liên hiệp gang thép đầu tiên của Tổ quốc. Các Tổng đội Thanh niên xung phong tham gia xây dựng các công trình công nghiệp trọng điểm của Nhà nước đã nhanh chóng được thành lập. Đó là Tổng đội 3 đảm nhận xây dựng Lò cao số 1 khu Gang thép Thái Nguyên; Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng nhà máy Thuỷ điện Thác Bà; Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng đường biên giới Việt - Trung, đường 426B, đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên… Đặc biệt, tuyến đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An, dài 143 km đã bị phá hoại nặng trong kháng chiến chống Pháp, nay cần khôi phục gấp để vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa góp phần chi viện cho miền Nam thân yêu. Công trình này được mang tên “Công trình đường sắt Thanh niên” và được giao cho lực lượng Thanh niên xung phong xây dựng chủ nghĩa xã hội của hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An đảm nhận. Công trình đã được triển khai nhanh chóng và hiệu quả. Ngày 1-5-1963, cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong trên công trường đã được Bác Hồ gửi thư khen: “Trong kế hoạch 5 năm, Đảng và Chính phủ đã quyết định xây dựng lại đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An. Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động đã thay mặt các cháu mà nhận công trình đó và xin đặt tên là Công trình đường sắt Thanh niên. Các cháu đã xung phong tình nguyện làm việc đó. Thế là các cháu đã làm đúng khẩu hiệu: “Đâu Đảng cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.
Bác tặng các cháu một lá cờ làm giải thưởng luân lưu… Cách thi đua thế nào để giành lá cờ đó do các cháu bàn bạc với nhau mà quyết định.
Ngoài ra, đơn vị nào và cháu nào làm việc thật giỏi Bác sẽ đề nghị Chính phủ khen thưởng”.
Thư của Bác đã có sức mạnh động viên kỳ lạ. Các đơn vị Thanh niên xung phong Thanh Hoá, Nghệ An đã sôi nổi thi đua lập công. Tuyến đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An đã được khánh thành đúng ngày 19-5-1964, vượt trước thời gian quy định 3 tháng 14 ngày, tiết kiệm cho Nhà nước tới 50 triệu đồng. Đội Thanh niên xung phong xây dựng Chủ nghĩa xã hội Nghệ An đã vinh dự được đón nhận lá cờ thi đua của Bác Hồ kính yêu.
Các đội Thanh niên Tháng Tám Thủ đô được thành lập ngày 9-8-1963 với hơn 1000 đoàn viên, hội viên, thanh niên đợt đầu cũng nhanh chóng tạm biệt Hà Nội, toả về khắp các nẻo đường miền núi xa xôi: Đội 2 do anh Nguyễn Hoàng Hồng làm đội trưởng cùng cả đoàn quân vượt muôn trùng gian khổ để vào tận Thanh Hoá, Khe Sanh xây dựng trục đường giao thông dưới nắng lửa miền Trung, trong gió Lào cát trắng. Anh Nghiêm Huy Hạ cùng những chàng trai, cô gái thư sinh Hà Nội đến với công trình Nậm Rốm- Điện Biên. Chị Ngô Tuệ Hiền (đội trưởng) cùng các bạn trèo đèo, lội suối đến với lâm trường Hữu Lũng (Lạng Sơn). Nữ sinh Nguyễn Thị Hiên cùng 86 đoàn viên, thanh niên Hà Nội đến nông trường Tô Hiệu (Sơn La) để làm những công việc xa lạ: Hái bông, làm cỏ, nhặt phân…và chân tay phồng rộp, loang lổ những vết đỏ sần vì ruồi vàng và muỗi đốt…Thế mà kỳ lạ, các đội Thanh niên Tháng Tám Thủ đô đã cùng tuổi trẻ miền Bắc lập nên bao kỳ tích: Hoàn thành vượt mức kế hoạch, vượt qua bao gian nan, thử thách để khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của đoàn viên, hội viên, thanh niên thời đại mới.
Trong phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân đã đồng loạt tiến quân vào khoa học kỹ thuật. Những tổ hỗ trợ sáng kiến, tổ khoa học kỹ thuật trẻ, tổ kiểm tra chất lượng sản phẩm… liên tiếp ra đời đã thu hút hàng vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia vào những hoạt động sáng tạo. Các công nhân trẻ của nhà máy Dệt Nam Định, nhà máy Cơ khí Hà Nội, khu mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) đã có sáng kiến “Mở hội thanh niên làm kỹ thuật”. Thanh niên nhà máy xi măng Hải Phòng đã khôi phục thành công hệ thống 4 lò nung để nhanh chóng đưa vào sản xuất. Nguyễn Thị Lý và tổ đá nhỏ ca A của chị đã sáng tạo ra danh hiệu “Kiện tướng sáng kiến” để phong tặng những đoàn viên, hội viên, thanh niên vượt từ 5-50% định mức chỉ tiêu kế hoạch và có nhiều sáng kiến. Danh hiệu “Kiện tướng sáng kiến” đã có tác dụng mạnh mẽ, thúc đẩy các đoàn viên, hội viên, thanh niên dám nghĩ, dám làm, phát huy sáng kiến, bố trí lại các dây chuyền sản xuất cho hợp lý, hạn chế bớt lao động thủ công để cải tiến thành lao động cơ khí. Riêng tổ của chị Lý đã sáng tạo, cải tiến, phát huy hơn 30 sáng kiến trong vòng 1 năm rưỡi góp phần giảm bớt 60% sức lao động của công nhân và 25% số đầu xe mà vẫn hoàn thành vượt mức kế hoạch…Tổ đá nhỏ ca A (Nhà máy xi măng Hải Phòng) của Nguyễn Thị Lý đã trở thành “Con chim đầu đàn” của phong trào thanh niên công nhân phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiến quân vào khoa học kỹ thuật trên toàn miền Bắc. Năm 1961, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân Hà Nội cũng đã phát huy được 8.800 sáng kiến trong tổng số 13.000 sáng kiến của công nhân toàn thành phố.
Thanh niên khu mỏ Hòn Gai chỉ tính riêng trong “chiến dịch than Điện Biên Phủ” đã đóng góp 1.286 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đảm nhận xây dựng 9 công trình thanh niên, xây dựng 1.950 tổ sản xuất, xe, máy mang tên thanh niên. Tổ đi lò nhanh của Nguyễn Văn Bôn, Đỗ Xuân Ngọc với sáng kiến “khoan sâu, bắn mìn nặng” đã mở đầu cho phong trào đi lò nhanh của thanh niên vùng mỏ. Anh hùng Vũ Xuân Thuỷ cùng tổ máy khoan BU4, xe Gấu 25, tổ máy xúc EKG1 của anh đã trở thành những điển hình tiên tiến của tinh thần dám nghĩ dám làm, dám vượt khó tiến công vào khoa học kỹ thuật…
ở nhà máy dệt Nam Định, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân đã cải tiến được 778 máy dệt từ tay đập ngang sang tay đập dọc, tăng năng suất mỗi năm 1,4 triệu mét vải và giúp nhà máy hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1962 trước 78 ngày…
Trong Đại hội tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc, ngày 21-6-1963, Bác Hồ đã gửi thư tới Đại hội và đánh giá cao vai trò của đoàn viên, hội viên, thanh niên: “Cho đến nay đã có 6000 tổ và đội ghi tên thi đua để giành danh hiệu vẻ vang là tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa. 389 tổ và đội đã được công nhận, trong đó có 1.400 chị em, 1.400 công nhân nam và 3.800 là thanh niên. Thế là thanh niên đã chiếm số đông hơn. Bác có lời khen ngợi thanh niên và khuyên các cháu cố gắng hơn nữa”.
Đoàn viên, thanh niên quân đội trên miền Bắc cũng luôn nêu cao tinh thần thi đua yêu nước, xây dựng và củng cố quốc phòng, chấp nhận và vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không ngừng vươn lên trong học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổng cục Chính trị quân đội Nhân dân Việt Nam đã phát động phong trào thi đua “Ba nhất” trong toàn quân, hướng vào các mục tiêu xây dựng tư tưởng tốt, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu tốt, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. 100% chi đoàn và đoàn viên, thanh niên trong các đơn vị, binh chủng, quân chủng đã đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “chiến sỹ ba nhất”. Các tấm gương tiêu biểu là chiến sỹ bộ đội biên phòng Chu Văn Thanh, Mừa A Dếnh (dân tộc Mông) đã mưu trí, dũng cảm, xử lý tốt mọi tình huống trong khi làm nhiệm vụ. Đó cũng là những tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, hoàn thành suất sắc mọi nhiệm vụ được giao…
Để kịp thời biểu dương thành tích suất sắc của tuổi trẻ miền Bắc, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua các phong trào thi đua, động viên đoàn viên, hội viên và thanh niên phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tháng 7-1963, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội đã tổ chức Đại hội những người xuất sắc trong phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Có hơn 600 đại biểu xuất sắc đã về dự. Đại hội đã tổng kết các hoạt động của Đoàn, Hội và các phong trào thi đua của tuổi trẻ miền Bắc, đồng thời biểu dương những tập thể và cá nhân xuất sắc. Đó là đoàn viên, thanh niên hợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình); đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân Nhà máy cơ khí Duyên Hải, nhà máy xi măng (Hải Phòng). Đó là tập thể đoàn viên, giáo viên và thanh, thiếu niên học sinh trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam). Đó là các y, bác sỹ và y tá trẻ tuổi của bệnh viện Vân Đình (Hà Tây). Đó là phong trào thi đua “Ba nhất” của tuổi trẻ quân đội…Đó là các cá nhân Đỗ Tiến Hảo, Lương Văn Nghĩa…(Nông nghiệp); Vũ Xuân Thuỷ, Đỗ Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Bôn (công nhân mỏ); Phạm Văn Chức (Lâm nghiệp); Trần Văn Giao (Địa chất); Đào Thị Hào (ngành dệt); Phùng Văn Bằng (Giao thông vận tải)…
Tháng 3-1964, trước tình hình đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên một bước mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập “Hội nghị Chính trị đặc biệt” tại Thủ đô Hà Nội. Người kêu gọi: “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp đồng bào miền Nam ruột thịt”.
Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Bác, bên cạnh 50 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên cùng 1 vạn tập thể đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, có thêm 80 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tiếp tục tự nguyện đăng ký phấn đấu theo tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai”. Nhiều công trình “Vì miền Nam ruột thịt” do tuổi trẻ đảm nhận đã hoàn thành vượt mức kế hoạch. Tiêu biểu là công trình đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An đã được hoàn thành đúng ngày sinh nhật Bác: 19-5-1964, vượt thời gian gần 4 tháng, được Bác Hồ tặng cờ và trao phần thưởng. Chi đoàn phân xưởng thành phẩm dệt kim Đông Xuân (Hà Nội) đã coi mỗi chiếc áo xuất xưởng là một viên đạn bắn vào đầu giặc và đã hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao 12%. Bí thư Đoàn Công ty Xây dựng Nam Định- Nguyễn Văn Độ đã có sáng kiến cải tạo máy cưa thành máy có hai tác dụng: Vừa cưa, vừa khoan, tăng năng suất 400%, được Bác Hồ khen ngợi và tặng Huy hiệu của Người…
Trong gần 10 năm (1955-1964) tham gia khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, tuổi trẻ miền Bắc đã có những cống hiến xuất sắc, luôn khẳng định được vai trò xung kích cách mạng của tuổi trẻ. Hàng triệu đoàn viên, hội viên, thanh niên đã được thử thách, rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt. Các tổ chức Đoàn, Hội liên tục được củng cố và lớn mạnh.
*
* *
Trong những năm 1961-1964, tuổi trẻ miền Nam đã góp phần cùng nhân dân miền Nam đánh tan chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ xâm lược. Tổng thống Mỹ Kennơđi đã quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam hòng cứu vãn chế độ Sài Gòn và duy trì, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới để đối phó với cao trào cách mạng.
Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ hết sức thâm độc. Đó là thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt” kết hợp với những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh hiện đại của Mỹ cùng những biện pháp khủng bố, đàn áp dã man của bọn nguỵ quyền Sài Gòn. Lực lượng chủ yếu thực hiện “Chiến tranh đặc biệt” là quân đội nguỵ quyền Sài Gòn do Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện và nuôi dưỡng.
Mỹ đã cho tăng viện trợ quân sự lên gấp đôi vào miền Nam. Nếu năm 1961-1962 là 321,7 triệu đô la (trong đó có 80 triệu đô la vũ khí) thì những năm 1962-1963 đã lên tới 675 triệu (trong đó có 100 triệu đô la vũ khí). Vì vậy, lực lượng quân nguỵ đã được vơ vét dồn ép, cưỡng bức để tăng lên nhanh chóng. Năm 1961, có 20 vạn quân thì năm 1962 đã lên tới 36,2 vạn quân chính quy. Lực lượng bảo an năm 1960 có 70.000 tên thì năm 1962 lên tới 174.500 tên. Lực lượng vũ trang thường trực là dân vệ cũng tăng tới 128 đại đội chiếm đóng, kìm kẹp nhân dân từ ấp, xã.
Đặc biệt, bọn CIA đã chọn lọc, tổ chức và huấn luyện, trang bị, đài thọ một đội quân “Thanh niên chiến đấu” rất lợi hại, vừa hỗ trợ cho quân thường trực dồn dân, lập “ấp chiến lược”, vừa bổ sung cho mạng lưới tình báo của Mỹ.
Trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bọn Mỹ - nguỵ coi việc bình định, dồn dân, lập “ấp chiến lược” là nội dung cơ bản để hòng “tát nước, bắt cá” lùng sục, bắt bớ cán bộ, đảng viên cộng sản; để hòng đánh phá tận gốc, bóp chết phong trào đấu tranh cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam.
Trước những thử thách khốc liệt mới, ngày 23-1-1961, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam để tăng cường chỉ đạo cách mạng miền Nam.
Ngày 31-1-1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam là: Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự.
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục, Khu uỷ khu V và các Đảng bộ địa phương, tuổi trẻ và quân dân miền Nam đã kiên cường đấu tranh, dũng cảm chiến đấu và từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Nguỵ.
Ngày 26-3-1961, Đội vũ trang quyết tử của học sinh, sinh viên Sài Gòn- Gia Định được thành lập. Ngày 6-4-1961, dưới sự chỉ huy của các anh Lê Hồng Tư, Hà Văn Hiền, Đội vũ trang quyết tử đã ra quân đánh trận đầu tiên giòn giã, diệt được tên Uyliam Tômát - một chuyên viên cao cấp của không quân Mỹ tại đường Ngô Thời Nhiệm (Sài Gòn). Ngay hôm sau, Đội lại tấn công bằng lựu đạn vào trụ sở cơ quan USOM của Mỹ tại đường Trần Hưng Đạo, giết và làm bị thương 6 tên cố vấn Mỹ. Xe của đại sứ Mỹ Nâu đinh cũng bị Đội tấn công ném thủ pháo như một lời cảnh cáo đanh thép bọn quan thầy Mỹ ở Sài Gòn. Sau vụ Đại sứ Mỹ bị chết hụt, bọn Mỹ- Nguỵ tăng cường lùng sục, bắt bớ. Do cơ sở sơ xuất, anh Lê Hồng Tư và một số đồng chí bị bắt. Anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Duy cùng một số đồng chí trong Ban Cán sự học sinh, sinh viên Sài Gòn - Gia Định cũng bị bắt.
Ngày 24-5-1962, Toà án quân sự đặc biệt của Mỹ- Nguỵ đưa các anh ra xét xử. Chúng đã kết án tử hình Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư và các đồng chí khác. Trước toà án kẻ thù, các anh đã liên kết thành “Tiểu đội gang thép” tiến công địch. Anh Lê Hồng Tư đã dõng dạc nói: “Tôi chỉ tiếc là không đủ lựu đạn để giết hết những tên cầm đầu bọn xâm lược”. Cả “Tiểu đội gang thép” đã hô đến vỡ ngực: “Đả đảo luật phát xít 10-59”; “Đả đảo đàn áp” và các anh cùng hát vang bài ca “Giải phóng miền Nam”. Đồng bào dự phiên toà cùng 15.000 thanh niên, học sinh, sinh viên đã vô cùng xúc động và khâm phục tinh thần bất khuất, dũng cảm của các anh.
Cũng năm 1962, tại Liên khu V, trong đợt 1 tuyển quân đã có 2.600 thanh niên xung phong tòng quân. Tính chung lực lượng vũ trang toàn khu từ huyện trở lên có tới 85% là thanh niên, 95% du kích là nam nữ thanh niên. Phong trào tòng quân giết giặc, tham gia du kích phát triển rầm rộ khắp miền Nam. Đặc biệt, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ. ở tỉnh Bến Tre, hai nữ du kích Tạ Thị Kiều (xã An Thạch) và út Tuyết (xã Đa Phước) đã hiệp đồng dùng mưu lấy được 2 đồn giặc, thu nhiều vũ khí và bắt giữ cả tù binh.
Chị Tạ Thị Kiều đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Quân giải phóng miền Nam.
Tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ miền Nam năm 1962 là chiến công của 10 dũng sỹ Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam.
Ngày 20-4-1962, 7 chiến sỹ đặc công do tiểu đội trưởng Lê Tấn Hiển và tiểu đội phó Võ Như Hưng chỉ huy đã cùng 3 cán bộ Huyện uỷ Điện Bàn về xã Điện Ngọc phát động quần chúng chuẩn bị cho một đợt đấu tranh mới. Địch đã phát hiện và huy động một tiểu đoàn biệt kích cùng nhiều dân vệ bao vây, tấn công. Để bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân, các anh vừa chiến đấu vừa rút ra ngoài cánh đồng, cố thủ tại một đìa cạn. Các anh đã kiên cường mưu trí, dũng cảm đánh địch từ 8 giờ sáng đến chiều tối, diệt hơn 100 tên, bên ta có 3 đồng chí hy sinh. Lợi dụng đêm tối, các anh nghi binh đánh lạc hướng địch, chôn cất tử sĩ, đưa thương binh và toàn đội rút về nơi an toàn. Trận chiến đấu của 10 đoàn viên, thanh niên - 10 dũng sĩ Điện Ngọc đã trở thành huyền thoại và trở thành niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam. Lực lượng vũ trang miền Nam liên tiếp lập chiến công trên khắp các chiến trường.
Để tiếp thêm sức mạnh và vũ khí cho lực lượng vũ trang, từ đầu năm 1962, những đoàn “tàu không số” đã được thành lập và viết lên những trang hào hùng đầy kỳ tích trên biển Đông. Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1962 đã có 4 chuyến “tàu không số” vượt biển, cập bến an toàn ở Cà Mau, đưa được 111 tấn vũ khí cho Khu 9.
Đầu năm 1963, Mỹ - Nguỵ bị một đòn choáng váng, bất ngờ tại ấp Bắc, xã Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy, cách thị xã Mỹ Tho 16 km. Phát hiện có chủ lực của ta tại ấp Bắc, tướng Mỹ P.Hakin đã trực tiếp lên kế hoạch mở cuộc hành quân với chiến thuật “phượng hoàng vồ mồi” với vũ khí mạnh, quân đông gấp 10 lần hòng tiêu diệt chủ lực Việt cộng. Sáng 2-1-1963, chúng cho pháo và máy bay, tàu chiến oanh kích, đồng thời mở 13 đợt tấn công liên tục mà không vào được ấp. Chiều tối địch buộc phải lui quân ra quốc lộ để sáng 3-1 sẽ mở trận tấn công quyết định. Nhưng đêm mùng 2 rạng sáng 3-1, bộ đội, du kích và nhân dân ấp Bắc đã bí mật rút khỏi ấp về khu căn cứ an toàn, để lại chiến trường ngổn ngang với 450 xác giặc, trong đó có 9 cố vấn Mỹ cùng 5 trực thăng tan xác, 11 chiếc bị thương, 3 xe M113 bị cháy trụi, 1 tàu chiến bị bắn chìm.
Đây là chiến thắng đầu tiên vang dội của quân dân miền Nam trên địa hình đồng bằng với lực lượng chênh lệch 1 chọi 10 cùng vũ khí hiện đại của địch.
Chiến thắng ấp Bắc đã cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ miền Nam trên khắp các chiến trường. Tại Khu 8, kết thúc phong trào “Thi đua ấp Bắc giết giặc lập công” đợt I đã có 135 ấp chiến lược bị phá; 2.600 tên địch bị tiêu diệt, bức rút 207 đồn và vận động được 6000 binh sĩ nguỵ trở về với nhân dân.
Cũng trong năm 1963, riêng Khu 8 đã có 51.300 thanh niên nam nữ gia nhập dân quân du kích. Lực lượng vũ trang địa phương phát triển tăng gấp đôi so với năm 1962 (1962 có 30.500 quân; 1963 là 64.000 quân).
Tháng 9-1963, bộ đội chủ lực Quân khu 9 đã tấn công chi khu quân sự Cái Nước, Đầm Dơi (Cà Mau) loại 558 tên địch, thu 200 súng.
Tháng 11-1963, căn cứ huấn luyện biệt kích Đức Hoà (Long An) bị bộ đội đặc công phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt gọn, bắt sống 170 tên (có 13 tên Mỹ), thu 540 súng.
Tháng 12-1963, trong trận đánh Đường Long (Bến Cát, Thủ Dầu Một), quân ta diệt gọn tiểu đoàn 32 biệt động “Cọp đen” khét tiếng tàn ác, thu 300 súng…
Trong năm 1963, trên các mặt trận miền Nam, quân ta đánh 24.600 trận lớn nhỏ; tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống 7,8 vạn tên địch (có 600 tên Mỹ); bắn rơi và phá huỷ 609 máy bay, phá hàng trăm xe thiết giáp và xe vận tải; trên 800 đồn bốt bị diệt, bị bức rút; 34 đoàn xe lửa bị lật, 236 tàu xuồng bị đánh chìm, đánh hỏng; thu hơn 1 vạn súng các loại…
Thừa thắng, các lực lượng đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị của quân dân miền Nam xốc tới.
Để thực hiện nhiệm vụ “xương sống” trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, bọn Mỹ - nguỵ dự định lập 16.000 “ấp chiến lược” trên toàn miền Nam ngay từ năm 1962. Nhưng đến cuối năm 1962 chúng mới lập được 3.900 ấp và ngay trong năm 1962 đã có 2.665 lần tuổi trẻ và nhân dân miền Nam nổi dậy phá “ấp chiến lược”. Kết quả là đã có 463 ấp bị phá hoàn toàn và 115 ấp được xây dựng thành “ấp chiến đấu”.
Năm 1963, trên toàn miền Nam có 34 triệu lượt người tham gia phá “ấp chiến lược”. Tuổi trẻ và nhân dân miền Nam đã phá hoàn toàn 2.895 ấp và phá đi, phá lại 5.950 lần trong tổng số 6.164 ấp địch lập được. Hàng nghìn “ấp chiến lược” biến thành “ấp chiến đấu”. 23.000 thanh niên tòng quân đánh giặc. Tiêu biểu cho phong trào phá “ấp chiến lược” của địch là tuổi trẻ và nhân dân các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên…
Quân và dân miền Nam trong năm 1963 đã phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000/17.000 thôn; giải phóng được 5/14 triệu dân.
Phong trào đấu tranh chính trị ngày càng phát triển rộng khắp miền Nam và thu hút mọi tầng lớp nhân dân.
Chỉ riêng ở Sài Gòn, trong 6 tháng đầu năm 1962 đã có 82 cuộc bãi công, biểu tình, bãi khoá chống Mỹ - nguỵ. Tiêu biểu là cuộc bãi công của 800 công nhân hãng dệt Vimitếc (2-1962) và 5000 công nhân cao su đấu tranh kéo dài tới 6 tháng.
Phong trào chống vụ án 24-5-1962 kẻ thù xét xử, kết án tử hình Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư… đã lan rộng trong tất cả các trường học trên cả nước. Đặc biệt là cuộc biểu tình của 8000 học sinh, sinh viên và thanh niên Tân An, Chợ Lớn ngày 8-6-1962. Truyền đơn, khẩu hiệu được rải hàng loạt suốt một tuần lễ trong các trường học ở Sài Gòn như trường Hồng Lạc, Phan Sào Nam, Nguyễn Văn Khuê, Việt Nam học đường… nhưng nhiều nhất là ở trường Văn Lang nơi anh Lê Hồng Tư theo học. Hoảng sợ trước làn sóng đấu tranh sôi sục của học sinh, sinh viên và đồng bào, chính quyền Diệm đã buộc phải tuyên bố sẽ giảm án.
Trong khí thế đấu tranh sôi động của tuổi trẻ khắp miền Nam, đầu tháng 3-1963, tại Thuận An (Huế) Hội Liên hiệp Học sinh, Sinh viên Trung Trung Bộ đã được thành lập. Tiếp đến ngày 17-3, Đoàn sinh viên Phật tử Huế cũng ra đời. Các tổ chức này đã nhanh chóng quy tụ được đông đảo sinh viên yêu nước tiến bộ cùng tranh đấu. Tiểu biểu trong phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị thời kỳ này là cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo.
Ngày 7-5-1963, trong dịp lễ Phật đản, Ngô Đình Diệm đã ra lệnh hạ cờ Phật, hàng nghìn Tăng ni, phật tử và nhân dân Huế đã xuống đường biểu tình phản đối. Đoàn biểu tình đã bị địch đàn áp dã man. Lại tối ngày 8-5-1963, hơn 10.000 học sinh, sinh viên và nhân dân Huế đã kéo đến Đài phát thanh Huế phản đối nguỵ quyền không tường thuật lễ Phật đản trên đài. Kẻ thù đã điên cuồng cho xe cứu hoả, xe tăng và binh lính đàn áp, bắn vào đoàn biểu tình. 8 người trong đoàn biểu tình (trong đó có 5 học sinh) đã trúng đạn và hy sinh.
Ngày 14-5-1963, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố kêu gọi nhân dân cả nước và nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật giáo.
Sinh viên, học sinh tại Sài Gòn cũng rầm rộ xuống đường biểu tình, bãi khoá ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật giáo. Ngày 11-6-1963, Hoà thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng để phản đối nguỵ quyền đàn áp Phật giáo. Những ngày tiếp theo, hàng trăm ngàn tín đồ, sinh viên, học sinh và nhân dân Sài Gòn đã dự lễ tang Hoà thượng. Phong trào đấu tranh chính trị bùng lên quyết liệt ở khắp nơi…
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, thông qua bọn tướng lĩnh tay sai ở Sài Gòn do Dương Văn Minh cầm đầu, Mỹ tiến hành cuộc đảo chính ở Sài Gòn, lật đổ Diệm - Nhu.
Sau khi Diệm - Nhu bị lật đổ, lại tiếp đến Dương Văn Minh cũng bị Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ ngày 30-1-1964, phong trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam càng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ngày 17-4-1964, hàng trăm thanh niên và công nhân xí nghiệp dệt Vimitếc (Sài Gòn) đã đấu tranh quyết liệt chống bọn chủ đuổi 151 công nhân.
Tháng 5-1964, 12.000 công nhân lái xe tắc-xi đấu tranh chống Mỹ giết hại anh Nguyễn Văn Bảy và hai công nhân lái xe tắc-xi khác. “Tuần lễ tẩy chay Mỹ” với những trận đón đánh, tiêu diệt Mỹ liên tiếp nổ ra trên các đường phố Sài Gòn - Gia Định…
Ngày 21-8-1964, hơn 4000 thanh niên, sinh viên, học sinh Sài Gòn đã tổ chức hội thảo tẩy chay “Hiến chương Vũng Tàu” vì Nguyễn Khánh đã ký bán rẻ cảng Cam Ranh cho đế quốc Mỹ.
Cũng ngày 21-8-1964, 5000 học sinh, sinh viên tổ chức mít tinh ở trường Đại học Luật khoa rồi kéo đến Bộ Thông tin nguỵ đòi tự do báo chí.
Ngày 24-8-1964, 30.000 đồng bào cùng tất cả các trường trung học thành phố Đà Nẵng xuống đường biểu tình, đình công, bãi chợ, tuần hành phản đối Mỹ- Khánh; đòi xoá bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”…
Ngày 25-8-1964, 400.000 đồng bào, học sinh, sinh viên, thanh niên Sài Gòn kéo tới bao vây dinh Nguyễn Khánh. Trước khí thế đấu tranh sôi sục ấy, đến 15 giờ cùng ngày Nguyễn Khánh buộc phải tuyên bố huỷ bỏ “Hiến chương Vũng Tàu” và rút lui chức Chủ tịch Việt Nam Cộng hoà do hắn tự phong.
Liên tiếp những tháng cuối năm 1964, đầu năm 1965, phong trào đấu tranh biểu tình, bãi khoá, đình công… của tuổi trẻ và nhân dân khắp các tỉnh, thành miền Nam rầm rập, hừng hực khí thế đã góp phần cùng đấu tranh vũ trang làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.
Từ năm 1964, quân nguỵ được Mỹ trang bị vũ khí tốt hơn và quân số tăng thêm nửa triệu nhưng chúng càng bị thua đau và nặng nề hơn.
Ngày 16-2-1964, quân ta tập kích rạp Kinh Đô tiêu diệt 150 sĩ quan Mỹ.
Ngày 2-5-1964, tàu Cađơ trọng tải 15.000 tấn vừa cập bến Bạch Đằng với toàn bộ hàng hoá và 19 máy bay lên thẳng bị bộ đội đặc công đánh chìm.
Ngày 5-6-1964, khách sạn Caraven bị quân ta đánh sập, 100 sĩ quan Mỹ bị chết và bị thương.
Những tháng năm này, câu chuyện huyền thoại về người chiến sỹ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi đặt mìn trên cầu Công Lý giết hụt tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara đã làm chấn động cả Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, những phút giây lịch sử vang dội của người đoàn viên Nguyễn Văn Trỗi trong ngày 15-10-1964 biến pháp trường thành diễn đàn lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước đã trở thành bất tử. Khí phách lẫm liệt của người anh hùng trẻ tuổi đã đi vào lịch sử; "Phút giây thiêng Anh gọi Bác ba lần" mãi mãi âm vang sông núi...
Biến đau thương, căm thù thành hành động cách mạng, trên quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng của Nguyễn Văn Trỗi đã có hơn 1000 thanh niên xung phong vào bộ đội, 2.500 nam nữ thanh niên gia nhập dân quân du kích.
Ngày 24-12-1964 khách sạn Bơrinh (Sài Gòn) rung chuyển, đổ sập vì bị quân ta đánh mìn. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng bị bộ đội ta tấn công.
Tin vui thắng trận vang dội khắp miền Nam. Sân bay Biên Hoà bị quân giải phóng pháo kích làm cháy, hỏng 17 máy bay. Các sân bay Đà Nẵng, Quy Nhơn, Plâycu cũng bị quân ta liên tiếp tiến công…
Ngày 7-12-1964, Quân khu V mở chiến dịch An Lão đánh điểm, diệt viện làm 700 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, quân ta thu 300 súng, giải phóng toàn huyện An Lão. Thừa thắng xốc tới, Trung đoàn 1 tại Quảng Nam đã tấn công cứ điểm Chóp Chài của địch, diệt gọn Sở chỉ huy tiểu đoàn và 1 đại đội chủ lực của địch.
Đặc biệt, chiến thắng Bình Giã ở miền Đông Nam Bộ đã làm nức lòng tuổi trẻ và nhân dân cả nước. Từ 3-11-1964 đến 2-1-1965, quân ta với 5 trận đánh cấp trung đoàn đã diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực, đánh thiệt hại 7 tiểu đoàn khác, phá hàng loạt “ấp chiến lược” giải phóng huyện Hoài Đức với 20 ngàn dân.
Tháng 2-1965, chiến dịch Mùa xuân đánh điểm, diệt viện của quân giải phóng tại Đèo Nhông (Phú Mỹ, Bình Định) đã diệt gọn 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe bọc thép M113 của địch…
Chiến thắng liên tiếp của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - nguỵ, làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.
Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, lại thường xuyên được thử thách và rèn luyện trong cao trào cách mạng, các tổ chức Đoàn, Hội và phong trào thanh niên miền Nam đã từng bước được củng cố và phát triển. Cùng sự ra đời, trưởng thành của các tổ chức quần chúng khác, sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời (20-12-1960), Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng được thành lập, bao gồm Hội Liên hiệp Sinh viên giải phóng, Hội Liên hiệp Học sinh giải phóng cùng các tổ chức thanh niên yêu nước khác với các hình thức tổ chức, hoạt động cách mạng phong phú, đa dạng và hiệu quả.
Hệ thống tổ chức Đoàn, Hội từ cơ sở bị địch đánh phá ác liệt trong suốt thời kỳ “Tố cộng”, “Diệt cộng” của Mỹ - nguỵ nay được các cấp uỷ Đảng quan tâm lãnh đạo nên từng bước được khôi phục, củng cố, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cuối năm 1960, riêng ở Quảng Nam - Đà Nẵng đã có trên 100 chi đoàn với 1295 đoàn viên và có 13.600 hội viên Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng. Đoàn còn xây dựng được 47 phân đội thiếu niên Tiền phong với 4.909 đội viên.
Vào thời điểm cuối năm 1961, toàn miền Nam có 21.748 đoàn viên, sinh hoạt trong 880 chi đoàn thì đến năm 1962 đã có 46.792 đoàn viên và 1.375 chi đoàn cùng nhiều chi hội với số hội viên lên đến gần 100 nghìn. Năm 1964, số đoàn viên đã lên tới 72.375 người hoạt động trong 2.539 chi đoàn. So với năm 1961 thì tổ chức Đoàn và đoàn viên năm 1965 đã tăng hơn 4 lần (Năm 1965, số đoàn viên toàn miền Nam là 88.947 với 3.276 chi đoàn).
Đặc biệt là các tổ chức Đoàn, Hội đã phát triển rộng khắp trong tất cả các vùng, các địa phương, tạo thành một hệ thống Đoàn, Hội từ các cơ sở đến các huyện, tỉnh và toàn miền Nam. Hầu hết các tỉnh đều có Ban cán sự Đoàn với số cán bộ chuyên trách từ 2 đến 4 đồng chí. Từ 1961 đến 1965, các cấp bộ Đoàn ở miền Nam đã mở được 771 lớp huấn luyện, bồi dưỡng, đào tạo được 24.258 lượt cán bộ Đoàn, Hội, trong đó số cán bộ nữ chiếm tới 2/3. Đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội ngày càng được tăng cường, phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu đã đảm bảo vững chắc cho công tác Đoàn, Hội và phong trào thanh niên miền Nam phát triển đồng thời đã tập hợp, đoàn kết rộng rãi các thành phần thanh niên, hội viên cùng trong một trận tuyến đánh thù.
Các cán bộ Đoàn, Hội đã kiên trì bám trụ, kiên cường chiến đấu và nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. Nhưng tuổi trẻ miền Nam cùng nhân dân miền Nam đã viết lên những trang sử oai hùng, chói sáng. Nhiều tên tuổi đã trở thành bất tử.
*
* *
Trong gần 10 năm (1955-1964) chiến đấu vô cùng gian khổ và oanh liệt với đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai bán nước, tuổi trẻ miền Nam đã kiên cường đương đầu với mọi khó khăn, thử thách, không quản ngại gian khổ, hy sinh cùng nhân dân miền Nam bất khuất, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, góp phần đưa cách mạng đi lên, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Cũng trong gần 10 năm (1955-1964) tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội, tuổi trẻ miền Bắc đã có sự cống hiến xuất sắc, luôn thể hiện là lực lượng xung kích cách mạng. Hàng triệu bạn trẻ đã được thử thách, rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt, tổ chức Đoàn, Hội liên tục được củng cố, phát triển. Với những phong trào “Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa”, “Sạch làng, tốt ruộng”, “Kiện tướng nghìn cân”, “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”… Đặc biệt là phong trào: “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, tuổi trẻ miền Bắc đã có những bước phát triển vượt bậc: Từ 200.000 đoàn viên sau ngày hoà bình lập lại, đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (1956) đã phát triển lên 420.000 đoàn viên, cho tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III (1961) đã có 780.000 đoàn viên sinh hoạt trong 12.000 chi đoàn cơ sở. Số lượng hội viên của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam và Lực lượng thanh niên xung phong cũng tăng hơn nửa triệu…
Cũng từ Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ I (1956) đến Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II (1961), Mặt trận đoàn kết, tập hợp đoàn viên, hội viên, thanh niên ngày càng rộng rãi và phát triển mạnh mẽ với đầy đủ các tầng lớp thanh niên công nhân, nông dân, quân đội, sinh viên, học sinh, trí thức, thanh niên các tôn giáo, các dân tộc thiểu số…Các phong trào do Đoàn, Hội vận động từ Bắc tới Nam đã thu được những thành tựu rực rỡ.
Tuổi trẻ miền Nam, tuổi trẻ miền Bắc trong những tháng năm sôi động của cả nước (1955-1964) đã xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ: “Các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng”. Thế hệ trẻ Việt Nam đã trở thành đội xung kích cách mạng xứng đáng với niềm tin vững chắc của dân tộc như Bác từng tiên đoán: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy Bác rất tự hào, sung sướng và như thấy mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”.
                                                                                                                             HẾT CHƯƠNG VIII

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
 Mua thiết bị định vị: http://adsun.vn/, thiết bị dạy nghề,Giá hộp đen ô tô tải định vị, tin tức kinh doanh, vai ao dai, tu dong cu, thuê xe du lịch mũi né, Máy chạy bộ điện

Huyện đoàn Vĩnh Linh

TIN MỚI