Chào mừng Đại hội Đoàn cấp cơ sở, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Vĩnh Linh lần thứ XVI - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, sáng tạo, thi đua lập thân, khởi nghiệp, xung kích, tình nguyện xây dựng quê hương giàu đẹp - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, thi đua rèn đức, học tập, lao động, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ quê hương                     
10:36 ICT Thứ hai, 24/04/2017

THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

LIÊN KẾT WEBSITE

Website NTLS Trường Sơn
Đoàn Dân Chính Đảng
cho thue xe 4 cho, thue xe

Trang nhất » TIN TỨC » Đoàn TNCS Hồ Chí Minh » Lịch sử Hội LHTN Việt Nam

CHƯƠNG X: PHONG TRÀO “NĂM XUNG PHONG” NÊU CAO QUYẾT TÂM “ĐÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO”

Thứ sáu - 17/09/2010 09:53 | Đã xem: 3267

Thất bại nặng nề trong việc thực hiện chính sách thực dân mới, nhất là trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh với quy mô chưa từng có, ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam nước ta tiến hành “Chiến tranh cục bộ” đồng thời leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu và thắng lợi về mọi mặt của quân dân và tuổi trẻ trên hậu phương lớn miền Bắc, sôi sục khí thế đánh Mỹ diệt nguỵ trên khắp các chiến trường miền Nam, tháng 3/1965, Đại hội lần thứ I Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam và sau đó Đại hội lần thứ II của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp trọng thể với sự có mặt của hơn 200 đại biểu các tầng lớp nam nữ thanh niên, bộ đội, công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh, thanh niên các dân tộc ít người, các tôn giáo v.v… Đại hội đã đánh dấu sự trưởng thành mau chóng của Hội.
Tại Đại hội, Đoàn chủ tịch UBTW Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã trao tặng "Huân chương thành đồng hạng nhất" và lá cờ danh dự thêu 4 chữ "Đoàn kết, xung phong, anh dũng, quyết thắng" để đánh giá thành tích và sự cống hiến vô cùng to lớn của phong trào thanh niên miền Nam trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc.
Hoà nhịp với "Ba sẵn sàng" của thanh niên miền Bắc, phong trào "Năm xung phong" của thanh niên miền Nam tạo nên một sức mạnh vĩ đại động viên 3 triệu thanh niên miền Nam chiến thắng mọi khó khăn gian khổ, đánh bại mọi âm mưu xâm lược của Mỹ và tay sai, để thực hiện giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Từ trận Vạn Tường mở đầu, tuổi trẻ cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã khẳng định là có thể đánh và nhất định đánh thắng Mỹ. Vừa chiến đấu, vừa tìm hiểu những chỗ yếu của quân đội Mỹ, thanh niên miền Nam Việt Nam đã cùng quân và dân khắp các địa phương sáng tạo nhiều cách đánh phong phú, táo bạo. Quân Mỹ đi đến đâu, gieo tai hoạ ở chỗ nào là ở đó chúng phải trả nợ máu. Chúng bị vây, bị chặn đánh ở mọi nơi, mọi lúc. Những mũi chông sắc nhọn, những phát súng bắn tỉa bất thần của các chiến sĩ trẻ tuổi đã diệt hàng ngàn tên xâm lược. Củ Chi trở thành đất thép, với những địa đạo ngang dọc, vây hãm quân thù vào trong trận đồ bát quái, chúng đã vào là khó có đường ra. Những bài học sinh động của Củ Chi mở ra hướng đi có hiệu quả trong chiến đấu. Chiến khu Đ lần đầu tiên Mỹ đưa lực lượng lớn, kể cả bọn chư hầu đến càn quét đã bị du kích, phần lớn là đoàn viên, hội viên, thanh niên đánh tiêu diệt. Du kích Thái Hoà (Phước Thành) chỉ một tiểu đội đã đương đầu với cả hai tiểu đoàn Mỹ có máy bay, pháo binh và cơ giới yểm trợ, suốt một ngày trời, vừa sửa công sự vừa đánh địch, cuối cùng buộc chúng phải rút lui. Vành đai Rạch Kiến (Long An) vừa kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, chỉ trong 6 tháng đã diệt hơn 200 tên Mỹ.
ở Mỹ Tho, ngay từ ngày đầu Mỹ tiến hành xây dựng căn cứ Đồng Tâm làm bàn đạp khống chế cả vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, tuổi trẻ đã cùng quân và dân trong tỉnh hình thành thế bao vây tiến công địch bằng “2 chân và 3 mũi giáp công". Cả những thanh niên tuổi mới lớn cũng tham gia đánh Mỹ bằng nhiều cách có hiệu qủa. Hồ Văn Nhánh, 16 tuổi, nhà ở gần căn cứ Đồng Tâm. Hàng ngày đi coi trâu gần căn cứ, Nhánh chú ý quan sát và phát hiện trên hàng rào địch gài nhiều mìn và lựu đạn. Anh nẩy ra ý định gỡ trái về cho du kích, nhưng không biết làm cách nào để gỡ, phải đào nguyên cả bệ đất đựng vào mo cau mang về. Dần dần được hướng dẫn, Nhánh đã tự gỡ và còn hướng dẫn lại cho em Dũng ở gần nhà cùng gỡ. Kết quả đã gỡ được hàng ngàn quả mìn, lựu đạn các loại, phục vụ cho du kích và bộ đội đánh diệt trên 300 tên Mỹ và nhiều tên nguỵ. Nhánh đã cùng với Dũng vào căn cứ gỡ trái tới 131 lần. Lần cuối cùng không may, mìn nổ, cả hai đã hi sinh. Về sau Hồ Văn Nhánh được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng.
Phong trào thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ quyết thắng”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới, hạ máy bay” đã thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên, thanh niên ở các địa bàn khác nhau tham gia, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “31 triệu đồng bào là 31 triệu dũng sĩ”. Phan Hành Sơn, 21 tuổi đời diệt một số địch gấp 21 lần số tuổi của mình. Hồ Văn Mên, 13 tuổi đã mưu trí đánh địch giữa thị xã, diệt một lúc 59 tên, phần lớn là sĩ quan. Nguyễn Văn Lên, chiến sĩ đặc công quận Tân Uyên, 2 ngày liền chống chọi với một trung đoàn địch, diệt cả trăm tên Mỹ. Bùi Văn Hoà, chiến sĩ đánh hậu cứ ngoan cường đã dẫn đồng đội vượt mọi lưới bố phòng như mạng nhện của địch tấn công vào kho Long Bình lần thứ 4, phá huỷ 889 ngàn đạn pháo, 23 xe cơ giới, 3 máy đèn, diệt 107 tên Mỹ, làm bị thương 243 tên khác.
Đáng chú ý là sự ra đời những tập thể thanh niên chiến đấu: “Đội thanh niên quyết tử”; “Đội thanh niên quyết thắng”; “Đội thanh niên khởi nghĩa”… Thanh niên vùng ven thành phố Đà Nẵng đã mở đầu sáng kiến này. Lúc đầu là một nhóm nhỏ thanh niên, có một số em thiếu nhi phối hợp, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, đã tổ chức đánh thử để rút kinh nghiệm. Ngày 10/3/1965, khi đợt đầu tiên của đội quân viễn chinh Mỹ đổ vào Đà Nẵng, một tên Mỹ đã ngã gục trước mũi súng bắn tỉa của “Đội thanh niên quyết tử” do Tỉnh Đoàn Quảng Đà (ngày nay là thành phố Đà Nẵng) tổ chức. Sau đó, khu Đoàn liên khu V quyết định phát triển các đội “Thanh niên quyết tử” ở tất cả 9 tỉnh, từ vùng núi Tây Nguyên đến các thành phố Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang. Đội “Thanh niên quyết tử” mang tên Anh hùng Võ Như Hưng do Huyện Đoàn Điện Bàn tổ chức, nhanh chóng nổi lên với nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo. Đội ra mắt tại Gò Nổi, phía Nam sông Thu Bồn, với lực lượng ban đầu là 31 tay súng. Trong một trận đánh không cân sức, đội đã chiến đấu kiên cường, đánh lui một lực lượng liên hợp gồm 3 tiểu đoàn quân Mỹ và nguỵ, diệt 125 tên, bắn cháy 5 xe tăng và xe bọc thép, rồi thừa thắng, truy kích địch vào tận thị xã Vĩnh Diện. Tại đây, một lực lượng nhỏ của đội trụ lại, thoắt ẩn, thoắt hiện bám đánh địch liên tiếp trong nhiều ngày. Đội “Thiếu niên quyết tử Nguyễn Văn Trỗi” ở Điện Hoà chỉ có 6 em cũng đã lập công xuất sắc: Trong 3 tháng diệt 135 tên Mỹ và thu được 15 súng. Tại thành phố Sài Gòn và các thành phố, thị xã khác đã xuất hiện những “đội quân ngầm” hoạt động táo bạo, diệt hàng trăm tên giặc xâm lược, trong đó có nhiều tên giặc lái nhà nghề và nhiều sĩ quan cao cấp Mỹ.
Tổ chức Đoàn, Hội ở nhiều nơi còn góp phần tổ chức những đơn vị chiến đấu gồm toàn nữ thanh niên, 6 nữ thanh niên du kích ở Quế Sơn (Quảng Nam) 7 ngày đêm liền chống trả một trung đoàn địch đến càn quét, diệt 59 tên Mỹ – Nguỵ, hạ một máy bay. Chị em vừa cầm súng chiến đấu quyết liệt, khi lực lượng địch mạnh, tràn được vào trong thôn xóm, chị em lại giấu súng, trở thành những cô gái dịu dàng trò chuyện thuyết phục từng tên địch. Địch rút ra ngoài, chị em lại cầm súng, đón đánh đợt tấn công tiếp của chúng. Trong nhiều huyện của miền Tây và miền Đông Nam Bộ còn xuất hiện những đơn vị nữ pháo binh chiến đấu ngoan cường. Các đội nữ pháo binh ở Rạch Giá, Long An, nhất là đội nữ pháo binh quận Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) chỉ sau 10 ngày huấn luyện đã sử dụng thành thạo các trang bị kỹ thuật, bắn chính xác, diệt 37 tên địch, trong đó có một đại uý nguỵ.
Trong gian khổ ác liệt, phong trào “Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch” của thanh niên trong tất cả các thứ quân trên chiến trường miền Nam ngày càng phát triển, nẩy nở nhiều tấm gương tiêu biểu. Dương Văn Tân, kiện tướng diệt Mỹ trẻ tuổi của Tây Ninh, cùng tổ chiến đấu của mình trong 16 ngày đêm đánh tan xác và đánh hỏng 16 xe tăng, xe bọc thép, diệt 87 tên Mỹ. Từ Văn Phước, 26 tuổi, Dũng sĩ diệt Mỹ Thủ Dầu Một, trong 13 tháng chiến đấu ở vùng sát địch quận Lái Thiêu diệt 71 tên Mỹ, 17 lính Nam Triều Tiên, 45 lính nguỵ… Qua hiệp đầu đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất của địch (1965-1966) riêng Quảng Trị, Thừa Thiên đã xuất hiện 2.700 dũng sĩ, trong đó có gần 500 dũng sĩ diệt Mỹ. Cũng thời gian ấy, ở miền Trung Trung Bộ có 405 dũng sĩ diệt Mỹ, 107 đơn vị anh dũng diệt Mỹ. Những lá cờ đầu diệt Mỹ như “Củ Chi đất thép thành đồng”, “Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”, “Long An toàn dân đánh giặc”… có sức cổ vũ tuổi trẻ trên các chiến trường vươn lên lập công với những tên tuổi như Đoàn Văn Luyện, Ngô Bê, Nguyễn Văn Hoà, Trần Thị Tâm… Là những thanh niên kiên cường như Võ Thị Thắng, không may bị sa vào tay giặc vẫn một lòng tin tưởng ở tương lai của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trước bản án 20 năm khổ sai của kẻ thù chị vẫn nở nụ cười chiến thắng! Là Kpă Klơng “Tuổi nhỏ chí lớn”, 13 tuổi đã tham gia du kích. Khi nhập ngũ, anh làm trinh sát cho bộ đội huyện Chưpông. Kpă Klơng có biệt tài bắn xuyên táo, luôn chọn điểm cao thích hợp, bình tĩnh chờ địch đến gần, mới nổ súng. Có lần anh bắn 3 viên đạn diệt 5 tên địch. Lần đi trinh sát ở Plêime anh đã bám lợi thế bắn 2 viên đạn diệt 4 tên biệt kích. Trong mọi tình huống, Kpă Klơng đều tìm mọi cách diệt địch đạt hiệu suất cao nhất. Có lần với 3 viên đạn còn lại, anh bám sát địch từ sáng đến chiều, đứng nấp cách địch 5 mét, chờ địch tập hợp hàng dọc mới bắn xuyên táo, diệt nhiều tên, làm bị thương 1 tên khác. Một lần khác đang làm nhiệm vụ canh gác trên rẫy, phát hiện địch kéo đến, anh bình tĩnh tìm vị trí thuận lợi, bắn 2 phát diệt ngay 4 tên. Những tên còn lại phải hốt hoảng tháo chạy. Đối với lính Mỹ, anh cũng có cách đánh thích hợp. Biết lính Mỹ khi tác chiến thường chiếm điểm cao, Kpă Klơng bố trí mìn trên đường rồi lên chiếm điểm cao trước, nằm phục kích. Lính Mỹ từ căn cứ Pleime hành quân lấn chiếm vấp phải mìn, đứa chết, đứa bị thương. Số còn lại vội chạy lên chiếm đỉnh cao, liền bị Kpă Klơng đang ém sẵn tại đó, ném lựu đạn vào đội hình diệt tiếp 4 tên, khiến chúng hoảng sợ tháo chạy.
Kpă Klơng là một chiến sĩ trẻ luôn xông xáo, gương mẫu. Trong nhiều năm anh đều được bầu là chiến sĩ thi đua của huyện, của tỉnh. Ngày 17/9/1967, anh được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang với sáu chữ vàng “Tuổi thiếu niên, chí anh hùng”.
Ngày 20/4/1966, nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam, Giáo sư Phạm Huy Thông, Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam đã đọc bài diễn văn quan trọng tại cuộc mít tinh do Hội LHTN tổ chức tại Hà Nội. Giáo sư đã nhiệt liệt ca ngợi những thành tích xuất sắc của Hội LHTN giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ-nguỵ, nhất là trong quá trình đẩy mạnh phong trào "5 xung phong". Thay mặt Hội LHTN Việt Nam, Giáo sư Phạm Huy Thông đã tuyên bố nhiệt liệt hưởng ứng lời đề nghị của Hội LHTN giải phóng miền Nam Việt Nam về việc thanh niên hai miền Nam - Bắc cùng nhau bắt tay thi đua thực hiện có kết quả 2 phong trào "Năm xung phong" và "Ba sẵn sàng" để thực hiện mục tiêu đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đem lại độc lập, tự do thống nhất cho Tổ quốc.
Diễn văn của Giáo sư Phạm Huy Thông đã được các cơ quan truyền thông đại chúng tuyên truyền rộng rãi góp phần cổ vũ tuổi trẻ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ thành thị đến nông thôn.
Tháng 6/1966, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng và TW Hội LHTN giải phóng chủ trương đẩy mạnh phong trào "Năm xung phong" lên một bước mới với khí thế “Phất cao cờ Năm xung phong, thanh niên thành đồng thừa thắng xông lên đánh bại hoàn toàn Mỹ – nguỵ”. Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của tuổi trẻ miền Nam là cầm súng giết giặc tham gia du kích địa phương và tòng quân. Nhiệm vụ ấy xác định cụ thể là phải xung phong tiêu hao, tiêu diệt nhiều hơn nữa sinh lực địch bao gồm quân Mỹ - nguỵ, chư hầu và mọi phương tiện chiến tranh của chúng. Đó là nhiệm vụ vinh quang trước nhất của thanh niên trong các lực lượng vũ trang, đồng thời đó cũng là nhiệm vụ của người thanh niên bất cứ ở đâu. Khi trên đất nước thân yêu còn một căn cứ địch, còn một bóng giặc xâm lăng thì thanh niên ta còn phải phát huy sáng kiến tiêu hao, tiêu diệt chúng, từ những hình thức đơn sơ, thông thường nhất cho đến những hình thức cao là trực tiếp cầm vũ khí.
Kế hoạch “tìm diệt” và “bình định” của Mỹ – nguỵ mùa khô 1966–1967 thực sự đã bị bẻ gãy trước sức mạnh kiên cường của quân và dân ta, trong đó tuổi trẻ đã đóng góp một phần công sức đáng kể, cùng các lực lượng vũ trang trên toàn miền Nam loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên địch (có 68.200 tên Mỹ, 5.540 tên chư hầu); tiêu diệt 22 tiểu đoàn bộ binh (có 9 tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên); 4 tiểu đoàn pháo Mỹ; 12 tiểu đoàn cơ giới (có 10 tiểu đoàn Mỹ); 187 đại đội (có 59 đại đội lính Mỹ và 7 đại đội lính Nam Triều Tiên); phá huỷ 1627 xe tăng, xe thiết giáp, 2107 ô tô, 308 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 1213 máy bay, bắn chìm bắn cháy 42 tàu, xuồng.
Phối hợp với phong trào "Xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch", mũi đấu tranh chính trị cũng được đẩy mạnh. Sau thất bại của Mỹ trong mùa khô 1965 - 1966, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ ngụy quân, ngụy quyền, nhân dân, học sinh, sinh viên Huế đã xuống đường chống chính sách lệ thuộc Mỹ của Thiệu - Kỳ. Sinh viên, học sinh đã chiếm Đài phát thanh Huế (ngày 23/3/1966), hàng ngày phát đi khắp thế giới tin tức đấu tranh bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh, Pháp. Cuộc đấu tranh thu hút cả lực lượng địch cùng tham gia, 1600 cảnh sát ngụy tham dự mít tinh đã tuyên bố đứng vào hàng ngũ cách mạng.
ở Đà Nẵng, hàng vạn nhân dân, hội viên, thanh niên lao động và học sinh, sinh viên đã xuống đường hô vang khẩu hiệu chống độc tài, đòi Thiệu - Kỳ từ chức, đòi Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đòi chúng cút về nước. Ngụy quyền ở thành phố tê liệt, quần chúng đứng lên tự quản, làm chủ Đài phát thanh Đà Nẵng, thành lập tổ học sinh cảm tử, biệt động và đội công nhân vũ trang trấn áp bọn ác ôn phản cách mạng. Cả thành phố bãi công, bãi thị. Học sinh phá Phòng Thông tin Mỹ. Trước khí thế của quần chúng, Mỹ buộc phải rút hết 30.000 lính và cố vấn quân sự Mỹ ra Hạm đội 7. Thiệu - Kỳ đưa quân từ Sài Gòn ra, nhưng trước khí thế của quần chúng, hơn nữa chưa có lệnh của quan thầy Mỹ, lại rút về. Ngày 6/4, từ Huế, 2 tiểu đoàn "thanh niên quyết tử miền Trung" vượt qua hàng rào phong toả của địch đến chi viện cho thanh niên và nhân dân Đà Nẵng.
Sau 76 ngày đêm nhân dân và tuổi trẻ giành quyền làm chủ, ngày 15/5, Mỹ dàn xếp ổn thoả với Thiệu - Kỳ, chúng cho 6 tiểu đoàn có máy bay và xe bọc thép yểm trợ đã đánh chiếm lại các vị trí ở Đà Nẵng. Tháng 6/1966, Thiệu - Kỳ chuyển quân ra đàn áp ở Huế, nhân dân và tuổi trẻ thành phố đưa bàn thờ Phật ra đường và tổ chức phong trào đấu tranh quyết liệt chống lại chúng. Tại Sài Gòn, trong phong trào "chống nội chiến miền Trung", bàn thờ Phật được dựng ở phòng tuyến ngã Bảy, Bàn Cờ, và Sư Vạn Hạnh. ở Đà Lạt, ngày 28/3/1966, học sinh các trường Bùi Thị Xuân, Trần Hưng Đạo, Bồ Đề... và sinh viên trường Đại học Đà Lạt bãi khoá, kéo đến phòng thông tin Mỹ đưa ra yêu sách, đòi Mỹ rút khỏi Đà Lạt. Cuộc đấu tranh nhanh chóng trở thành phong trào chống Mỹ, chiếm đài phát thanh, chiếm giữ khu chợ Hoà Bình. Địch huy động quân biệt động, cảnh sát dã chiến đàn áp. Ngày 21/4, học sinh xuống đường tuần hành đưa tang, biến đám tang thành cuộc đấu tranh chống Mỹ và ngụy quyền tay sai. Thanh niên học sinh tổ chức những "đêm không ngủ", "đốt lửa trại nhìn rõ mặt kẻ thù", tổ chức toà án xử tội phạm chiến tranh Giônxơn, Mắc Namara, Taylo.
"Năm xung phong" từng bước đi vào cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ miền Nam bằng nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, có những nơi cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, phong trào tòng quân và tham gia du kích của thanh niên càng phát triển. Có những xã ở Kiến Phong, tỉnh Long An trong khi địch đang tiến hành bình định, lấn chiếm, dồn bắt thanh niên đi lính, vào phòng vệ dân sự vẫn có hàng trăm thanh niên đi tòng quân và tham gia du kích. Hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng trong điều kiện địch đánh phá ác liệt vẫn thường xuyên cấp đủ tân binh bổ sung theo yêu cầu phát triển lực lượng địa phương và cung cấp nhiều tân binh cho lực lượng chủ lực toàn miền. Hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho hàng tháng có từ 100 - 200 thanh niên tòng quân, góp phần xây dựng nên những đơn vị chủ lực lớn của quân đội cách mạng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường. Riêng Mỹ Tho (ngày nay là tỉnh Tiền Giang) trong hai năm 1967-1968 đã có 13.800 đoàn viên và hội viên, thanh niên lên đường nhập ngũ. ở các xã Cẩm Sơn, Mỹ Thiện... có đến 80% số thanh niên đến tuổi đã lên đường đi chiến đấu.
Từ năm 1965 đến năm 1968, tuổi trẻ liên khu 5 đã có 2 khoá tòng quân tập trung. Khoá Nguyễn Văn Trỗi kéo dài trong 2 năm 1965 - 1966, có trên 28.000 cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên nhập ngũ, góp phần lập nên hai sư đoàn quân chủ lực, sư đoàn 3 (thành lập tháng 9/1965) và sư đoàn 2 (thành lập tháng 11/1965): Chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, tổ chức Đoàn, Hội các tỉnh thuộc liên khu 5 lại phát động cao trào tòng quân "xông lên giành chính quyền, thanh niên quyết thắng", với 25.000 đoàn viên và thanh niên nhập ngũ.
Có nhiều hình ảnh sinh động xuất hiện trong phong trào tòng quân, như vợ mới cưới tiễn đưa chồng đi làm nhiệm vụ, cha dẫn con ra mặt trận v.v... Có những gia đình lần lượt 5-7 anh chị em hy sinh, còn lại người con út chưa đủ tuổi, vẫn thiết tha được lên đường cầm súng. ở Lộc Ninh, bà mẹ Lê có 2 người con trai đến tuổi quân dịch, bà đã tìm cách che giấu cho con suốt 4 năm trời, đến ngày quê hương được giải phóng, bà đã vui vẻ dẫn cả 2 con đến giao cho cách mạng, còn lại một mình ở nhà sản xuất.
Thấy rõ việc đưa thanh niên đứng hẳn về phía cách mạng là hình thức triệt để nhất để bảo vệ thanh niên, các tổ chức Đoàn, Hội cơ sở đã đặc biệt coi trọng việc vận động thanh niên đấu tranh chống bắt lính, chống đôn quân, đẩy mạnh công tác binh vận và địch vận, làm tan rã từng mảng lớn hàng ngũ địch, nhất là đấu tranh chống phá hình thức tổ chức phòng vệ dân sự, vận động thanh niên trả súng, không canh gác, không tập quân sự. Nhiều nơi tổ chức phòng vệ dân sự của địch tan rã từng mảng đến tan rã hoàn toàn, địch phải tốn nhiều công sức lập đi lập lại vẫn không duy trì được.
Thấy rõ bộ mặt tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hầu hết thanh niên ta đều không muốn đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng cũng không ít thanh niên chưa mạnh dạn đứng lên đấu tranh. Một số còn ngần ngại gian khổ, không dám ra vùng giải phóng. Phần đông thanh niên này đã chống bắt lính bằng những hình thức như: Lánh né, làm giấy tờ giả, lo lót tiền bạc, thậm chí có người đã tự thương, chặt đứt cả ngón tay... Một số thanh niên khác, tích cực hơn tổ chức thành những lõm trốn lính, làm hầm bí mật có vách ngăn làm hai, tủ quần áo cũng được làm thành 2 ngăn, vừa đảm bảo chống bắt lính, vừa che giấu cán bộ hoạt động bí mật khi cần thiết. ở nhiều nơi, ngoài việc trốn tránh để khỏi bị bắt lính, thanh niên còn tự trang bị vũ khí như lựu đạn, súng ngắn... để tự bảo vệ khi địch lùng bắt.
Với hành động chống bắt lính tích cực, ngay cả trong thời kỳ địch bình định lấn chiếm quyết liệt nhất, thanh niên xã Mỹ Long (ngày nay thuộc tỉnh Tiền Giang) vẫn được bảo vệ. Cả 240 thanh niên của xã không có một người nào bị bắt lính. Lúc đầu tổ chức Đoàn, Hội của địa phương hướng dẫn những thanh niên trong số bà con thân thích của cán bộ Đoàn, Hội vào các "lõm địa hình" ăn ở, sinh hoạt. Dần dần số thanh niên vào trụ bám trong "lõm" ngày càng đông. Cả một số binh sĩ địch và phòng vệ dân sự đào ngũ cũng vào sống trong "lõm" du kích. Họ tự lực xây dựng cụm ăn ở, gắn bó với nhau như anh em ruột thịt. Từng bước, tổ chức Đoàn, Hội động viên, giáo dục các đối tượng thanh niên, vận động họ cùng tham gia công tác cách mạng. Hầu hết thanh niên đều vào các đội du kích, tham gia cài lựu đạn bảo vệ "lõm địa hình", đánh địch khi chúng càn vào căn cứ, một số khác tòng quân.
Thông qua phong trào"Năm xung phong", nhiều cơ sở Đoàn, Hội đã kiên trì tổ chức, tập hợp thanh niên theo những hình thức thích hợp: Hội những người đá banh, đội văn nghệ thanh niên, tổ chức thanh niên xung phong chống bắt lính, tổ chức thanh niên tuyên truyền xung phong, tổ thanh niên xung phong cung ứng chiến trường, đội TNXP cơ sở v.v... Nhiều thanh niên đã từng vào phòng vệ dân sự của địch, khi được giáo dục, giác ngộ đã hăng hái tham gia du kích, tham gia diệt ác phá kềm. Xã Vĩnh Tường (Long Mỹ) có cả một liên toán phòng vệ dân sự khởi nghĩa, chuyển thành lực lượng du kích với 39 súng. ở Bắc Long An có 6 thanh niên bị bắt vào phòng vệ dân sự đã tự đặt tên: Quyết - Tâm - Bảo - Vệ - Tổ - Quốc, rồi diệt ác mang súng trở về với cách mạng tham gia du kích đánh địch. Không chỉ thanh niên vùng giải phóng, vùng giáp ranh hăng hái tòng quân mà ngay cả ở các vùng bị địch tạm chiếm sâu như ở Thới Bình thanh niên cũng tìm mọi cách để ra vùng giải phóng tham gia công tác cách mạng. Có 3 thanh niên trong một ấp chiến lược đã phá rào ra đồng nằm chờ 3 ngày 3 đêm để liên lạc với cách mạng, xin đi chiến đấu. Trước yêu cầu bức thiết phải huy động sức người, sức của ngày càng cao, khi tình hình cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Trung ương Đoàn và Trung ương Hội chủ trương tổ chức ra Đội Thanh niên xung phong công tác phục vụ chiến trường. Ngày 20/4/1965, đội thanh niên xung phong mang ký hiệu C100 có 108 đội viên ra đời. Tháng 8/1965, đáp ứng yêu cầu của chiến trường trọng điểm miền Đông, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội quyết định thành lập Tổng đội TNXP giải phóng miền Nam vừa làm nhiệm vụ chỉ đạo theo hệ thống ở các tỉnh Nam Bộ (cũ) vừa chỉ huy các liên đội của Miền.
C100 được lấy làm khung cho tổ chức Tổng đội. Một nửa làm nòng cốt để xây dựng đội 198 mang tên Thành đồng, nửa còn lại biên chế các bộ phận thuộc văn phòng Tổng đội. Đồng chí Nguyễn Đức Toàn, ủy viên Thường vụ Trung ương Đoàn được cử làm Tổng đội trưởng.
Căn cứ chủ trương của Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng và Hội LHTN giải phóng miền Nam, lực lượng TNXP miền Nam được thành lập theo 3 hình thức: TNXP giải phóng miền Nam tập trung dài hạn, làm nhiệm vụ phục vụ chiến trường, ngày đêm sát cánh với các đơn vị quân giải phóng miền Nam, tải thương, vận chuyển hàng chiến lược, vũ khí, làm cầu đường. Các đội thường hoạt động phân tán theo từng trung đoàn quân giải phóng hoặc ở một hướng chiến trường nhất định.
Hình thức thứ hai, TNXP miền Nam tập trung có thời hạn, do các tỉnh hoặc các khu Đoàn tổ chức và chỉ đạo. Riêng khu V đã có 5506 thanh niên xung phong tập trung của tỉnh và khu, với các liên đội Võ Như Hưng, Võ Thị Sáu. Khu VI có 19 đại đội với 2500 đội viên. Các tỉnh thuộc Nam Bộ cũ cũng thành lập được một đội TNXP giải phóng tập trung. Thủ Dầu Một có đội 112 mang tên Phú Lợi căm thù, Tây Ninh có đội 2311 Hoàng Lệ Kha, Long An có đội 29 mang tên Hiệp Hoà anh dũng, Mỹ Tho có đội ấp Bắc I và ấp Bắc II, Bến Tre có đội 2012 Nguyễn Văn Tư, Cần Thơ có đội Tây Đô quyết thắng, Cà Mau có đội Nguyễn Việt Khái, Rạch Giá có đội Hòn Đất I...
Hình thức thứ ba, TNXP miền Nam ở cơ sở (xã, ấp) được tổ chức rộng rãi ở hầu khắp các tỉnh, với hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên tham gia. Riêng tỉnh Bến Tre, trong chưa đầy 2 năm (1965 - 1966) đã có 10215 đội viên. Một số xã, đội viên TNXP chiếm trên 60% tổng số đoàn viên, thanh niên ở địa phương.
Đội viên TNXP ở cơ sở và TNXP tập trung có thời hạn là nguồn bổ sung dồi dào cho bộ đội và TNXP tập trung dài hạn.
Đồng thời với sự phát triển cuộc đấu tranh trong các đô thị, trên toàn chiến trường miền Nam, công tác phục vụ chiến đấu do các thanh niên xung phong đảm nhiệm ngày càng có những đóng góp đáng kể. Chỉ tính riêng ở huyện Đại Lộc (Quảng Nam - Đà Nẵng) trong năm 1966, lực lượng TNXP giải phóng địa phương đã chuyển được 14360 tấn hàng. Nhiều đơn vị nhờ tổ chức tốt đã đưa năng suất bình quân lên gấp 3-4 lần, từ 2 tấn lên 6-7 tấn/ngày.
Trên tuyến đường 1C dài hàng trăm km, không dân cư, toàn đồng hoang rừng vắng, bị chia cắt thành nhiều tuyến do đồn bốt địch, chúng lập cả một khu chiến thuật riêng chuyên đánh phá hành lang vận chuyển trên tuyến đường 1C. Có tháng chúng đổ quân đánh phá suốt cả 30 ngày không nghỉ. Có ngày, máy bay địch bắn phá tới 15-17 lần. Các tuyến lộ, sông không ngày nào không có tàu hoặc bộ binh địch ngăn đón... các đội TNXP giải phóng của 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ: Hòn Đất, Nguyễn Viết Khái II, Nguyễn Viết Khái III, Mai Thanh Thế, Tây Đô... đã bền bỉ, dũng cảm và mưu trí vừa đánh địch để bảo toàn lực lượng, bảo toàn tuyến chuyển tải, vừa không ngừng tăng năng suất hoàn thành xuất sắc từng nhiệm vụ.
Những ngày đầu mới tập kết, hầu hết đội viên TNXP đều ở độ tuổi từ 15-20, có đến 3/4 là nữ của các tỉnh đồng bằng phù trú, chưa quen cuộc sống khắc nghiệt của vùng rừng núi, mùa mưa lầy lội, ẩm ướt, muỗi, đỉa, vắt... như trấu. Chỉ một đợt sốt rét rừng ở núi Cô Tô đã làm 100% quân số của một đơn vị gồm 11 đội viên đã chết vì không có thuốc điều trị. Hầu hết đội viên nữ đều bị rụng tóc. Có đơn vị phải đóng quân giữa một vùng nước ngập tới bụng, không một gò đất khô, suốt ngày phải ngâm mình dưới nước, kể cả những chị em đến tháng. Cứ như vậy kéo dài trong thời gian 6 tháng.
Địch phong toả gắt gao, nhiều lần gạo hết phải ăn cháo, ăn rau bông súng, môn nước, củ nèo. Có lần các đơn vị đóng quân ở vùng núi Cô Tô 27 ngày liền không có gạo ăn, trong đó có 7 ngày liền chỉ được ăn rau muống.
Gian khổ ác liệt nhưng tuyến đường vận chuyển hàng chiến lược không một ngày ngừng hoạt động, liên tục trong một ngàn ngày đêm. Đội Nguyễn Viết Khái II suốt 3 tháng liền (tháng 10, 11, 12/1967) chỉ nghỉ 5 ngày để xây dựng căn cứ. Năng suất lao động ngày càng được nâng cao. Mới đầu, 2 đội viên chống 1 xuồng, đã nâng lên 1 đội viên chống 1 xuồng chở 300 - 400kg. Từ 2 đội viên đẩy 1 xe (loại xe cút kít) rút xuống 3 người đẩy 2 xe, chở 600 - 700kg. Nhiều đội viên đi phục vụ liên tiếp 27 đêm liền trong một tháng.
Không chỉ đảm bảo vận chuyển hàng chiến lược, liên đội còn phải chiến đấu để tự bảo vệ và bảo vệ hàng. Cùng đơn vị bạn diệt hàng ngàn tên địch, bắn rơi hàng chục máy bay. Riêng liên đội trực tiếp chiến đấu 45 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 200 tên địch, bắn rơi 4 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc khác. Đội viên Trần Thị Thoa, 18 tuổi ở Mai Thanh Thế, trong lúc đơn vị đi làm nhiệm vụ, ở nhà một mình, trực thăng địch đổ quân đánh chiếm doanh trại đơn vị, đã kiên cường bám trụ, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đẩy lùi cả đại đội địch, bảo vệ được doanh trại. Lê Văn Dè, một mình chiến đấu với 1 tiểu đoàn địch trên bờ sáng trống trải, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của 300 tên địch, diệt 17 tên, và 2 tên Mỹ.
Chuyển tải là nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng TNXP giải phóng miền Nam. Các liên đội TNXP tập trung dài hạn của miền thường xuyên gắn bó với các đơn vị chủ lực quân giải phóng như hình với bóng. Với phong trào "4 tăng, 5 giảm, 3 rút ngắn, 10 bảo đảm", liên đội 9 luôn tổ chức rút kinh nghiệm, xây dựng những điển hình về thồ hàng, cáng tải thương, thực hiện khẩu hiệu "mạnh vai tải, vững tay thồ, công binh giỏi, chiến đấu cừ" phù hợp với từng đợt phục vụ, đưa năng suất lên ngày một cao, từ 2-5 tấn/ngày lên 20 tấn/ngày vẫn đảm bảo dẻo dai và liên tục.
Liên đội 7, thời gian đầu phối thuộc với sư đoàn 7 quân giải phóng chủ yếu cáng thương, tải hàng chiến lược, sau chuyển về đoàn hậu cần chủ yếu thồ hàng. Liên đội đã tổ chức "tuần lễ đồng hóa kỹ thuật" nhằm luyện thuần thục tay thồ. Liên đội thường xuyên chuyển tải hàng trên tuyến hành lang gay go ác liệt. Trung bình mỗi tuần liên đội phải chịu đựng 3 lần máy bay chiến lược B52 rải thảm vào đội hình, phải thường xuyên di chuyển căn cứ, sinh hoạt ăn uống thiếu thốn, thiếu cơm nhạt muối vẫn phải đảm bảo 85-90% quân số phục vụ, đưa năng suất bình quân từ 2 bao/người/chuyến lên 3,5 bao/người/chuyến.
Công việc chuyển tải đối với TNXP giải phóng là một cuộc chiến đấu thực sự. Một lần các chiến sĩ TNXP đội 1167 đang chuyển 60 thương binh về tuyến sau giữa lúc giặc càn, phải cắt rừng vượt sông vẫn không tránh được đụng đầu với chúng. Không có thuyền, các chiến sĩ trầm mình dưới nước suối hàng tiếng đồng hồ, dùng dây chằng qua sông để đồng đội cõng thương binh đi qua. Địa hình trống trải, máy bay địch phát hiện gọi pháo bắn vào đội hình đơn vị đang vượt sông. Có chiến sĩ bị thương vẫn không rời vị trí, đưa hết thương binh qua sông an toàn. Được một đoạn đường, đơn vị lại đụng biệt kích Mỹ, phải vừa chiến đấu, vừa đưa thương binh vượt qua.
Có lần đang làm nhiệm vụ khiêng thương binh, TNXP giải phóng đội 1265 bị lọt vào ổ phục kích của địch. Ngay loạt mìn đầu tiên nổ đã có 6 chiến sĩ hy sinh. Kẻ địch dùng ngay cả xe tăng tấn công vào đội hình của đơn vị. Lưới lửa dày đặc. Không thể để thương binh bị thương lần thứ 2, các chiến sĩ lần lượt cõng thương binh vượt ra khỏi vùng lửa đạn.
Nhiều đội viên TNXP giải phóng đã nêu cao gương sáng về lòng hy sinh quả cảm. Trong một chuyến công tác, đơn vị của Nguyễn Thị Hoàng Anh (đơn vị 19/8 liên đội 9) bị địch phục kích. Chúng sử dụng cả máy bay, pháo bầy bắn phá vào đội hình của đơn vị, cho cả xe tăng xông thẳng tới hòng diệt gọn. Hoàng Anh đã kiên cường bám trụ. Trong tay chỉ còn 1 trái lựu đạn của một đồng chí bộ đội bị thương vừa trao cho. Hoàng Anh rút sẵn chốt, chờ địch đến, 2 tên Mỹ xông đến định bắt Hoàng Anh. Cô chống cự quyết liệt, 2 tên Mỹ khác thấy vậy xông vào tiếp sức đồng bọn. Chỉ chờ có thế, Hoàng Anh bật ngửa người, buông tay. Lựu đạn nổ, 4 tên Mỹ chết tại chỗ, Hoàng Anh hy sinh.
Tiêu biểu là tấm gương hy sinh thân mình để bảo vệ thương binh của người đội viên TNXP giải phóng Đoàn Thị Liên, đội 112. Bình thường Liên là một cô gái dịu dàng, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Trong một năm rưỡi tham gia TNXP giải phóng, Đoàn Thị Liên đã phục vụ 12 trận chiến đấu. Nhiều trận, Liên đã xông ra trận địa cõng thương binh, mỗi lần hạ cáng nghỉ, Liên lại lo đi tìm củi nấu nước phục vụ anh em, nấu cháo cho thương binh...
Trong trận đánh ở Cần Lê, trên đường 13, Đoàn Thị Liên cùng đồng đội bám sát các mũi xung kích. Trận đánh mỗi lúc một ác liệt, Đoàn Thị Liên vừa cõng được 2 thương binh về hầm, pháo địch bỗng nã xuống tới tấp. Liên bị dính mảnh pháo, ngã khuỵ xuống, trong khi nhiều quả đạn pháo nổ ngay trước cửa hầm nơi có thương binh đang nằm. Liên thấy không yên tâm, cố trườn đến nằm chắn ngang cửa hầm, dùng thân mình che mảnh đạn cho thương binh. Một quả pháo địch nổ gần và Liên hy sinh.
Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 - 1967, vùng kiểm soát của Mỹ - ngụy bị thu hẹp, chính quyền Sài Gòn khủng hoảng triền miên, ngụy quân sa sút ý chí và tinh thần. Cuối năm 1967, Giônxơn đưa thêm 100.000 quân chiến đấu vào miền Nam, đưa tổng số quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam lên nửa triệu tên, vẫn không cứu vãn nổi tình thế. Quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc liên tiếp giành được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Nhìn thấu rõ tương lai của cuộc kháng chiến, mừng xuân Mậu Thân 1968, trong Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi:
Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!
Lời chúc năm mới cũng là lời hịch xung trận. Phát huy sức mạnh tổng hợp và thừa thắng xông lên, tháng 12/1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết, chỉ rõ: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới: Thời kỳ giành lấy thắng lợi quyết định".
Nắm vững thời cơ và chiến lược của Đảng, tháng 11/1968, Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng và Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam quyết định động viên thanh niên thừa thắng xốc tới cùng quân và dân toàn miền tổng kích. Trung ương Đoàn, Trung ương Hội thiết tha kêu gọi: "Thời cơ hiện nay đang mở ra cho mỗi thanh niên, mỗi cán bộ, mỗi đoàn viên, hội viên ánh sáng huy hoàng, soi đường cho chúng ta xông lên lập công lớn. Giặc Mỹ và tay sai đang choáng váng, chúng ta hãy bồi cho chúng những đòn chí mạng. Chúng ta phải nỗ lực phi thường, làm việc không tiếc sức, quyết không chút ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc. Mỗi cán bộ, đoàn viên và thanh niên trong giờ phút thiêng liêng này phải đứng ở hàng đầu trong trận chiến chống Mỹ cứu nước".
Hưởng ứng lời kêu gọi đó, hầu hết cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên các cơ quan xung quanh Trung ương cục miền Nam đã hăng hái tình nguyện tăng cường cho 5 phân khu xung quanh Sài Gòn và các khu tỉnh, thành.
Đoàn viên, hội viên và thanh niên ở các địa phương đã tham gia nhiều đường dây vận tải vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí từ các trạm trên đường hành lang biên giới về địa điểm tập kết vùng ven bằng các hệ thống công khai, bí mật vào các kho nội thành. Các tỉnh còn huy động hàng ngàn thanh niên tham gia dân công, cùng thanh niên xung phong phục vụ hoả tuyến. Khắp trong các tỉnh, thành phố đã dấy lên phong trào tòng quân sôi nổi. Hàng vạn đoàn viên, hội viên và thanh niên đã lên đường bổ sung cho quân chủ lực miền, khu để lập các sư đoàn và trung đoàn mạnh của quân giải phóng. Riêng ở Bến Tre đã thành lập được 5 tiểu đoàn bổ sung cho lực lượng của miền. Khu V có nhiều hình thức động viên thanh niên tòng quân, Quảng Nam tổ chức "dạ hội tòng quân", Quảng Ngãi tổ chức "ngày hội toàn dân bàn việc nước, tính việc nhà"... Năm 1967, Đoàn quân khu V có 12.577 thanh niên tòng quân, 5.506 thanh niên gia nhập lực lượng TNXP giải phóng miền Nam, 57.306 nam nữ thanh niên tham gia du kích, trong đó có 2.028 du kích mật. Cao điểm năm 1968, toàn khu đã động viên 25.144 thanh niên tòng quân.
Một lực lượng đáng kể thanh niên "Ba sẵn sàng" từ hậu phương lớn miền Bắc cũng không ngừng được bổ sung cho chiến trường miền Nam, góp phần tăng cường sức mạnh của các lực lượng vũ trang trên chiến trường cả về số lượng và chất lượng.
Hàng vạn TNXP mở đường, đưa hàng vạn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men... kịp thời phục vụ cuộc chiến đấu. Khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy đang diễn ra quyết liệt, 57.667 cán bộ và chiến sĩ lại được chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ. Năm 1969 có 43.219 người được chi viện cho chiến trường Nam Bộ, 35.501 người cho chiến trường khu V...
Trừ một số nơi ở khu V và Tây Nguyên nổ súng sớm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đã đồng loạt nổ súng đúng giao thừa Mậu Thân 1968. Sài Gòn, Huế, Quảng Trị, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Vĩnh Long, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, Tây Ninh... chỉ trong 7 ngày đầu của cuộc tập kích chiến lược, thanh niên đã cùng quân và dân miền Nam tấn công 64 thành phố, thị xã, diệt 5 vạn tên Mỹ - ngụy và chư hầu. Các chiến sĩ trẻ tuổi trong các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương đã chiến đấu vô cùng anh dũng, chẳng những đánh trúng, đánh mạnh mà còn anh dũng chọc thủng các phòng tuyến của địch, đánh lâu ngày trong thành phố, diệt nhiều sinh lực tinh nhuệ của Mỹ - ngụy. Tại Sài Gòn, quân ta tiến công toà đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh, Trung tâm truyền tin Phú Nhuận, sân bay Tân Sơn Nhất, trại thiết giáp Phù Đổng...
Với truyền thống "đánh đâu thắng đấy", các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61 quân giải phóng luôn là những mũi nhọn xung kích của đơn vị. Trong đợt đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ 5 phút các chiến sĩ đã dũng cảm phá bung 22 lớp rào dây kẽm gai, tạo điều kiện cho đơn vị tiến vào làm chủ đường băng, đánh vào nhà của giặc lái và nhân viên kỹ thuật. Nhiều chiến sĩ trẻ đã hy sinh anh dũng trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Đó là "Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ" như Lê Anh Xuân đã ngợi ca. Thừa thắng, các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61 tiếp tục đánh cho địch những đòn choáng váng: Ngày 19/2 chặn đánh một tiểu đoàn địch ở cửa ngõ Sài Gòn, diệt một đại đội. Ngày 24/2, đánh giáp lá cà diệt một đại đội ngụy và 10 tên Mỹ. Ngày 13/3, 29 chiến sĩ của đơn vị đã đánh bại 2 tiểu đoàn địch, diệt 200 tên.
Chi đoàn 61 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, một đơn vị nhỏ quân giải phóng gồm toàn những chiến sĩ tuổi từ 19-20, được nhân dân che chở giúp đỡ đã tiếp tục đánh chiếm cầu chữ Y chỉ trong một thời gian ngắn. Kẻ địch ngoan cố, dùng đủ mọi cỡ hoả lực, điều đến những đơn vị thiện chiến, tổ chức nhiều đợt phản kích, vẫn không đánh bật được đơn vị ta ra khỏi cầu. Trong khi đó khoảng 20 chiến sĩ trẻ của ta tiến đánh toà đại sứ Mỹ ngay trung tâm Sài Gòn. Cuộc chiến đấu diễn ra trong nhiều giờ, giành giật nhau từng góc tường, từng cầu thang gác. 6 chiến sĩ trẻ khác chiến đấu trong một khách sạn đang làm dở suốt 36 tiếng đồng hồ, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Và ở Đài phát thanh của ngụy quyền Sài Gòn, đội 4, biệt động thành Sài Gòn được ém quân sẵn chỉ cách Đài 100m, có lệnh tiến công, các chiến sĩ đã nhanh chóng tiếp cận đánh mục tiêu và giữ vững trong 3h10 phút. Địch huy động hàng tiểu đoàn thiện chiến đến tìm cách giải toả. Các chiến sĩ ta dũng cảm đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 1 đại đội lính dù, 7 trung đội bảo an, phá huỷ 1 xe thiết giáp, 1 xe GMC, 7 chiến sĩ của đội vượt được vào tuyến trong, phá huỷ hoàn toàn hệ thống máy móc của Đài, làm sập tầng trệt và 1 phần lầu 2. Các chiến sĩ lần lượt hy sinh. Còn lại 4 người, sau khi đạn hết, cuộc chiến đấu không cân sức, các chiến sĩ đã dùng bộc phá phá huỷ đài và hy sinh anh dũng. Đội trưởng Trần Phú Cường (tức Năm Mộc) đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Toàn đội được tặng thưởng Huân chương quân công giải phóng hạng Nhì.
Nhà báo Mỹ Don Oberdoiter trong cuốn "Tết" viết về cuộc tấn công Mậu Thân của ta đã có những nhận định: "Có lẽ trận tấn công được tổ chức tốt nhất ở vùng trung tâm thành phố là trận đánh chiếm đài phát thanh, một cơ sở hết sức quan trọng trong bất cứ cuộc đảo chính hay nổi dậy nào...".
Trong những ngày tiến công và nổi dậy của quân và dân toàn miền, Thành Đoàn Sài Gòn kịp thời thành lập ủy ban Thanh niên, sinh viên, học sinh cứu trợ đồng bào bị nạn, lập các trung tâm hỗ trợ giúp dân, đồng thời là nơi thu gom, nuôi giấu thương binh ta và chiến sĩ lạc đơn vị. Lợi dụng tổ chức công khai này, tuổi trẻ Sài Gòn đã móc nối cơ sở, xây dựng các căn cứ lõm ở các khu lao động, như ở liên phường 3A (Bàn Cờ - Vườn Chuối), liên phường 3B (Nguyễn Thông - Lê Văn Duyệt), liên phường 4A (Trương Minh Giảng - Trương Tấn Bửu), liên phường 4B (Gia Định).
Tại Huế, đêm 31/1/1968 quân và dân ta đồng loạt tiến công 40 mục tiêu. Rạng sáng ngày 1/2, ta làm chủ hầu hết thành phố, cờ Mặt trận miền Nam tung bay trên đỉnh cột cờ Thành nội. Sáng 3/2, ta phát động nhân dân nổi dậy lập chính quyền cơ sở. Mặt trận Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế ra đời, kêu gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết chống Mỹ.
Sau những ngày đầu choáng váng vì bị đòn bất ngờ, trưa ngày 7/2/1968, địch huy động 11 tiểu đoàn ngụy, 3 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ, có pháo và xe tăng yểm trợ phản công chiếm lại Huế. Nhiều trận chiến đấu ác liệt nổ ra. Ngày 11 và 12/2, tiểu đội 11 cô gái sông Hương phối hợp với các chiến sĩ phân đội K10 đã tổ chức nhiều trận đánh, bẻ gãy tất cả các đợt phản kích của địch hòng chiếm lại sân vận động Huế. Tiếp đó, dưới sự chỉ huy của Phạm Thị Liên, một cô gái mới 20 tuổi, đánh thắng liền 7 trận ở Vân Dương, giữ vững cầu Lò Trâu, góp phần tiêu diệt 120 tên Mỹ. Kẻ địch điên cuồng cho một tiểu đoàn Mỹ phản kích, Phạm Thị Liên cùng đồng đội bình tĩnh chờ địch vào gần mới nhất loạt nổ súng, băm nát đội hình chúng, buộc chúng phải rút chạy. Phạm Thị Liên và tiểu đội chiến đấu của cô được tặng phần thưởng xứng đáng: Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.
Cuộc tiến công chiến lược mùa xuân Mậu Thân 1968 nổ ra đều khắp. Nhiều cơ sở Đoàn, Hội được chuẩn bị tốt đã tổ chức đoàn viên và thanh niên phối hợp cùng các cánh quân giải phóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, tiếp đó đánh địch phản kích, giữ vững trận địa nhiều ngày. ở Mỹ Tho, các cơ sở Đoàn, Hội ở vùng ven thành phố đều được củng cố, có từ 10 đến 30 người. Các cơ sở không lộ đều được phân công đánh chiếm các vị trí địch. Được lệnh tổng công kích, các đơn vị mũi nhọn của thành phố chia làm 3 hướng vừa dẫn đường cho bộ đội chủ lực tiến đánh vào thành phố vừa diệt địch trong các đồn bốt vùng ven. Địch phản kích quyết liệt. Chúng cho lữ đoàn 3 sư đoàn 9 Mỹ cùng 3 tiểu đoàn của sư đoàn 7 ngụy và 2 chi đoàn thiết xa vận đánh vào lực lượng của ta trong thành phố. Đoàn viên và thanh niên trên các đường phố phối hợp cùng các chiến sĩ trẻ trong các đơn vị quân giải phóng bám trụ trong từng góc tường, hẻm phố... đánh diệt từng cánh quân địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, 1 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn ngụy bị diệt gọn, 20 xe M113 bị bắn cháy.
Phối hợp với cánh quân đánh chiếm các căn cứ địch trong thành phố, đoàn viên và thanh niên trong các đơn vị du kích của các địa phương vận động nhân dân nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch, đẩy mạnh hoạt động đánh phá giao thông, ngăn chặn địch ứng cứu cho nhau. Lộ 4 (ngày nay là quốc lộ 1 còn có tên gọi lộ Đông Dương) bị bắn phá nhiều lần. Từ ngày 1 đến ngày 16/2/1968, giao thông trên lộ 4 bị cắt đứt nhiều đoạn từ huyện Cái Bè đến Châu Thành (Tiền Giang ngày nay).
Trong chiến đấu, nhiều đoàn viên, hội viên và thanh niên đã lập công xuất sắc. Tại Đà Nẵng, Phạm Chu với khẩu B40 tiến vào Nam Ô diệt 1 cụm 5 tên Mỹ, truy lùng diệt nhiều tên ác ôn ngoan cố. Tại Quảng Ngãi, 8 dũng sĩ trẻ đơn vị trinh sát tỉnh đội đánh vào sân bay diệt 200 tên. Nguyễn Thị Phúc, chính trị viên đại đội đặc công Phù Mỹ (Bình Định) tính đến Tết Mậu Thân đã đánh 52 trận, dũng cảm mưu trí diệt gần 100 tên giặc, được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. A Sâu, một thanh niên người dân tộc cùng đơn vị đánh vào thị xã Kon Tum, bị địch bao vây. Từ trên nóc chợ, A Sâu vừa di chuyển, vừa đánh địch, diệt nhiều tên. Chọn thời cơ anh nhảy xuống, vào giữa đội hình địch, chúng chưa kịp phản ứng, anh ném 2 trái lựu đạn làm chúng hoảng loạn rồi nhanh trí vượt khỏi vòng vây. Nguyễn Văn Vân ở Thủ Dầu Một, vận động 3 đợt được hơn 300 thanh niên đi dân công tải thương cùng anh em đào hầm bí mật nuôi giấu thương binh nặng, bảo vệ và chuyển an toàn thương binh về hậu cứ. Nguyễn Du, 19 tuổi, quê ở Thái Bình trong đơn vị bổ sung cho Khánh Hoà, Tết Mậu Thân cùng đơn vị tiến vào Nha Trang, tới ven thành phố đụng địch, khi chúng rút chạy, Du lạc đơn vị được nhân dân nuôi giấu, anh vẫn không chịu rời bỏ súng, sẵn sàng chiến đấu khi gặp địch. Cũng tại Nha Trang, một phân đội của trung đoàn 52 đánh chiếm chợ Đầm, tuy chỉ có một tổ chốt lại nhưng địch phản kích quyết liệt 5 ngày đêm liền vẫn không chiếm lại được chợ. Các chiến sĩ lần lượt hy sinh, chỉ còn 1 người vẫn chiến đấu đến hết đạn. Trước khi bị giặc bắt, anh đã phá huỷ súng, không để vũ khí rơi vào tay giặc.
Nhiều em thiếu nhi tuổi nhỏ nhưng chí không nhỏ, đã sát cánh chiến đấu bên cạnh các chị lớn tuổi và lập được nhiều chiến công. Nguyễn Văn Hoà làm nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội, đã mượn súng của các chiến sĩ đánh trận đầu diệt 8 tên Mỹ, lấy súng đạn của địch trang bị cho mình. Lê Thị Minh, 13 tuổi, 5 lần vào căn cứ Nước Mặn trinh sát để bộ đội pháo kích, liên tiếp bị địch bắt tra tấn dã man nhưng nhất định không khai, mưu trí trốn thoát trở về đơn vị.
Tại Huế, địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt. Chúng điều đến Huế những đơn vị khét tiếng tàn bạo, sử dụng cả máy bay ném bom có tính huỷ diệt... Nhưng Huế vẫn kiên cường đứng vững trong 26 ngày đêm. ở Sài Gòn, các đợt hoạt động hè thu tiếp tục gây cho địch những đòn choáng váng. Rạng sáng 5/5/1968, trận tiến công đánh chiếm toà hành chính quận 5 của ngụy bắt đầu bằng một trận đánh ác liệt tại góc đường Hồng Bàng - Phước Hưng (nay là đường An Dương Dương - Phước Hưng), 13 chiến sĩ thuộc đội vũ trang Ban Hoa vận của thành phố đã chiến đấu một mất một còn với lực lượng địch đông gấp bội. Phần lớn họ là những thanh niên con em hoặc người thân của một gia đình người Hoa có bà mẹ tên là Lục Tài Chi. Người nhiều tuổi nhất là Tăng Bôi, con rể tương lai của gia đình, chỉ huy đơn vị, 31 tuổi. Người trẻ nhất là Lưu Hương, chỉ mới 15 tuổi, là con dâu tương lai của gia đình. Còn Hồ Đạt Thành, Hồ ái Quần, con bà Lục Tài Chi đều đang tuổi thanh niên. Mặc dù được chuẩn bị chu đáo, vũ khí được ém sẵn gần mục tiêu, nhưng do địch tập trung lực lượng lớn, các chiến sĩ trong đội vũ trang đã phải giành giật với địch từng mét đường, 13 người bị thương nặng. Đạn hết. Các chiến sĩ sẵn sàng giương lê đánh giáp lá cà với địch.
Trong cuộc tiến công chiến lược mùa xuân Mậu Thân 1968 phải kể đến tinh thần bền bỉ và kiên cường của các chiến sĩ trên mặt trận Làng Vây - Khe Sanh. Được mở ra nhằm thu hút và giam chân phần lớn lực lượng địch ở hướng Bắc Quảng Trị, tạo điều kiện cho quân và dân toàn miền Nam tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Chiến dịch đường số 9 - Khe Sanh đã nổ súng tiến công trong đêm 20 rạng sáng ngày 21/1/1968. Ngay trận đầu mở màn chiến dịch, các chiến sĩ trẻ tiểu đoàn 7 trung đoàn 66/304 bằng một trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đã tiêu diệt cứ điểm Làng Vây bằng 3 hướng đột phá, mở rộng bàn đạp vây hãm Tà Cơn và đánh quân địch phản kích tăng viện.
Thực hiện ý đồ chiến dịch, việc vây lấn Tà Cơn dài ngày (từ 10/2 đến 15/7/1968) là một thử thách đối với mỗi chiến sĩ trẻ trong các đơn vị tham gia chiến đấu. Các chiến sĩ trẻ nêu khẩu hiệu: "Phải biến Tà Cơn thành địa ngục trần gian, thành lò lửa thiêu quân Mỹ trên đường số 9". Trận địa vây lấn của các chiến sĩ ta ngày càng siết chặt buộc bọn chỉ huy Mỹ, dù đang bị căng ra trên khắp các chiến trường đối phó với những đợt tiến công của quân và dân trên toàn miền cũng phải tổ chức lực lượng hành quân giải toả và thay quân vào những ngày tháng 4 và đầu tháng 5, để cuối cùng không chịu nổi sức ép trên chiến trường, quân Mỹ phải rút chạy vào giữa tháng 7, sau 5 tháng bị vây hãm.
Đứng trước những nhiệm vụ cách mạng hết sức cấp bách và nặng nề, ngày 20/12/1968 (kỷ niệm 8 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam), Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam ra lời kêu gọi các tổ chức hội viên, toàn thể các hội viên và thanh niên:
"1. Hãy tích cực học tập, nhận rõ tình hình nhiệm vụ, thời cơ trước mắt, nhận rõ trách nhiệm của thanh niên trước lịch sử, ra sức rèn luyện lập trường tư tưởng, chiến đấu kiên định vì độc lập tự do, vì lý tưởng cách mạng cao đẹp, sẵn sàng xả thân vì nước, thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!
2. Hãy đẩy mạnh đợt thi đua "Phất cao cờ 5 xung phong giành 4 nhất thắng Mỹ" đưa lên thành cao điểm từ nay đến 26/3/1969, biến phong trào 5 xung phong thành cao trào cách mạng sôi nổi trong thanh niên ở khắp các vùng bằng những hành động cụ thể như đăng ký tòng quân, tham gia dân quân du kích, gia nhập đội thanh niên xung phong, đi dân công, phục vụ chiến đấu, chống bắt lính... góp phần giành thắng lợi lớn trong thời gian tới, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.
3. Hãy tích cực nổi dậy tại chỗ, diệt ác, trừ gian, tổ chức chiến đấu chống càn, chống biệt kích, thanh niên ta quyết làm lực lượng xung kích bẻ gẫy cái gọi là kế hoạch "Bình định cấp tốc" gắn liền với kế hoạch "Phượng hoàng" của địch. Hãy đập nát cái gọi là tổ chức "phòng vệ dân sự", phá tan âm mưu bắt lính của giặc đồng thời tích cực kêu gọi binh sĩ ngụy trở về, quyết không để một thanh niên bị bắt đi lính làm bia đỡ đạn cho địch.
4. Hãy nỗ lực xây dựng hậu phương vững mạnh, thanh niên ta quyết góp phần tích cực vào xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng đời sống lành mạnh.
5. Hãy ra sức củng cố Hội và mở rộng khối đoàn kết thanh niên, thu hút ngày càng đông các tầng lớp thanh niên tham gia chống Mỹ cứu nước, phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong cao trào cách mạng hiện nay".
Thực hiện lời kêu gọi của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam và để xứng đáng với những chữ vàng do Mặt trận khen tặng: "Đoàn kết, xung phong, anh dũng, quyết thắng", thanh niên trong các lực lượng quân giải phóng, các đội TNXP đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Thanh niên công nhân, lao động, học sinh, sinh viên các đô thị, thị xã, thị trấn, các vùng còn bị địch kiểm soát đã đóng vai trò là ngòi pháo nhạy bén trong các cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt và dai dẳng cho những quyền lợi dân sinh, dân chủ, đấu tranh chống bắt lính, nổi dậy diệt ác ôn, trừ gian, diệt địch ngay trong sào huyệt của chúng, giành quyền làm chủ về cho nhân dân. Thanh niên nông thôn phát huy khí thế đồng khởi, luôn đi đầu trong chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo vệ hậu phương.
Nữ thanh niên cũng đã đóng góp rất to lớn, xứng đáng với danh hiệu "Bất khuất, trung hậu, đảm đang".
Giữa lúc quân dân và tuổi trẻ miền Nam đang phát huy những thắng lợi hết sức to lớn và toàn diện đã giành được thì Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc không còn nữa.
Trong đợt thi đua "Học tập và làm theo di chúc của Bác Hồ", trên chiến trường Tây Nguyên, một du kích trẻ, mới 16 tuổi, chỉ với 3 viên đạn súng trường đã bắn rơi chiếc trực thăng chở tên tướng 3 sao Giôn Đinla, Tư lệnh công binh Mỹ tại chiến trường miền Nam và tên tướng 2 sao A Đam cùng đi. Đó là chiến sĩ du kích Puih Gio người làng Maih, xã Ia Rung (Chưpah - Gia Lai). Puil Giơ, sinh ra trong một gia đình có 5 anh em thì anh, chị và mẹ đã phải chết vì đói và bệnh tật. Cha bị địch bắt, bị chúng đánh thành tật. Ngày anh tham gia vào đội du kích, cha anh dặn: "Mày đi du kích đánh Mỹ, đánh ngụy phải đến cùng, không được bỏ về làng". Năm 11 tuổi, Giơ vào ở với bộ đội du kích địa phương, từng nhiều lần vào tận nơi bọn lính Mỹ trú quân, lân la làm quen với chúng, nắm tình hình mọi mặt bố phòng của địch, làm dấu vào từng ngón tay, số quân, số súng, hầm hào, hàng rào sắt, đường đi, bãi mìn... báo lại cho đội du kích chính xác đến từng chi tiết, đơn vị bố trí lực lượng đã đánh là thắng.
Liên tiếp thất bại trên các chiến trường trong chiến lược chiến tranh cục bộ, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải đến Paris ngồi vào bàn hội nghị đồng thời chủ trương chuyển hướng "Việt Nam hóa chiến tranh", ra sức bắt thanh niên đi lính, xây dựng lực lượng ngụy quân khá đông đảo, chúng ra sức bình định nông thôn, huy động 70% quân chủ lực hầu hết bảo an, dân vệ cùng hàng vạn cảnh sát dã chiến và trên 40 ngàn cán bộ bình định càn quét, đánh phá, chà đi xát lại các vùng đông dân với những biện pháp tàn bạo, thâm độc hơn hẳn bất cứ thời kỳ nào trước đây.
Đồng thời địch tăng cường xây dựng bộ máy kìm kẹp, vơ vét người, của nhằm giành và tạo cho được thế kiểm soát nhân dân nông thôn để khôi phục củng cố ngụy quân, ngụy quyền cơ sở, tăng cường hệ thống phòng thủ, bảo vệ an toàn cho các thành thị để đưa quân chủ lực ngụy cơ động ra phía trước thay thế dần cho quân Mỹ rút. Chúng triển khai chiến dịch "Phượng hoàng" để tiêu diệt cơ sở ta bằng mọi thủ đoạn thâm độc, ác hiểm ở cả thành thị lẫn nông thôn.
Với chiến lược "quét và giữ" ráo riết của Mỹ-ngụy, các cơ sở của Đoàn cũng như các cơ sở cách mạng của Đảng đứng trước nhiều khó khăn. Phần lớn căn cứ của cơ quan Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn bị đẩy lùi ra xa. Một bộ phận không nhỏ thanh niên phải rời bỏ đi nơi khác.
Bên cạnh những khó khăn chung, thanh niên ở các địa phương còn phải đối phó với kế hoạch bắt lính đôn quân tàn bạo của địch nhằm tăng cường quân ngụy thay dần cho quân Mỹ. Chúng coi đó là vấn đề cấp bách. Với bộ máy kìm kẹp gắt gao, chúng thúc ép, cưỡng bức thanh niên vào các tổ chức "phòng vệ dân sự", "nhân dân tự vệ". Thực hiện cái gọi là "tự phòng", ngụy quyền cố sức xây dựng một lực lượng hậu bị hơn 1 triệu người. Chúng chia tổ chức phòng vệ dân sự ra làm 3 loại: Số lớn tuổi, từ 40 trở lên, nếu chịu nộp mỗi tháng từ 500 đến 700 đồng thì được miễn canh gác, lứa tuổi thanh niên, thiếu niên chúng bắt tập quân sự, trang bị một số súng và lựu đạn (thường là súng xấu và đạn ít) bắt canh gác ở những nơi công cộng ban đêm. Chúng lựa một số thanh niên có sức khoẻ tổ chức thành lực lượng phòng vệ xung kích phiên chế thành từng toán (gọi là nhân dân tự vệ chiến đấu và nhân dân tự vệ nòng cốt) trang bị súng tốt và có nhiều đạn. Chúng cho số liên toán trưởng, liên toán phó luân phiên phòng vệ đi canh gác, phục kích, giữ đồn, cả dân vệ, bảo an. Sau này Mỹ-ngụy bắt buộc bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp bắt lính mở các cuộc hành quân cảnh sát với lực lượng ít, kết hợp do thám chỉ điểm nơi thanh niên trốn để bắt êm. Đồng thời chúng lùng bắt táo bạo ở nơi có đông thanh niên, bao vây cả chùa chiền, thánh thất để bắt những thanh niên tu sĩ vào lính.
ở các vùng tôn giáo chúng lợi dụng danh nghĩa "bảo vệ đạo" để thu hút thanh niên vào các tổ chức bán vũ trang và các sắc lính làm nhiệm vụ tại địa phương để từng bước đôn quân.
ở thành thị, chúng đánh trượt học sinh qua các kỳ thi cử. Có nơi chúng đánh trượt tới 1/2 để bắt lính. Chúng còn lũng đoạn bọn tay sai ở các xí nghiệp sa thải công nhân, để chúng dễ bề đẩy vào lính.
Chưa bao giờ cuộc đấu tranh giành và giữ thanh niên lại trở nên quyết liệt như trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Theo thống kê của Khu Đoàn miền Trung Nam Bộ, của tổ chức Đoàn, Hội Bắc Long An, của tỉnh Tây Ninh đã có 35.000 thanh niên đấu tranh chống bắt lính quyết liệt. Riêng các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến Tường, Long An, Bến Tre có 130.000 lượt thanh niên tham gia đấu tranh chống bắt lính bằng mọi hình thức. ở các địa phương khác đã có trên 30.000 lượt thanh niên chống bắt lính thắng lợi, đồng thời làm tan rã 35.000 phòng vệ dân sự.
Phong trào chống bắt lính lan rộng khắp nơi. Hình thức chống bắt lính ngày càng phong phú, thanh niên theo đạo Cao Đài ở Bến Tre đã tuyệt thực đấu tranh chống bắt lính. ở Mỹ Tho, thanh niên trong các khu tập trung khi địch bắt lính đã đấu tranh buộc địch phải thả hầu hết số anh chị em bị bắt. Có lúc địch dụ dỗ hàng ngàn thanh niên vào chùa Thầy Khanh để úp bộ bắt anh em vào lính. Được cán bộ Đoàn động viên, hướng dẫn, hàng trăm thanh niên đã tìm mọi cách rời bỏ chùa, nhờ đó thoát được âm mưu bắt lính của địch. Hình thức chống bắt lính cao nhất của thanh niên là tập hợp lại thành tổ chức có vũ trang để cùng nhau canh gác và tự vệ. Có nhiều xã anh em đã tự tổ chức thành từng tiểu đội, trung đội chống bắt lính, vừa tham gia sản xuất, vừa bố trí chiến đấu, sống chết có nhau, quyết không để cho địch bắt. Tháng 3/1972 ở tỉnh Kiến Phong đã xuất hiện một kiểu chống bắt lính bằng bạo lực của khoảng 200 thanh niên. Anh em tự tổ chức ra một khu trốn lính có bố phòng cẩn mật. Họ hùn tiền mua súng đạn để tự vệ. Địch cho quân đến càn, anh em đã chiến đấu suốt cả ngày, diệt gần 50 tên. Khi bọn trên quận biết tin cho thêm lính tăng viện, anh em lại tạo ngay thế hợp pháp đấu tranh trực diện với chúng.
Thanh niên trong các thành thị miền Nam, nhất là ở thành phố Sài Gòn đã kiên quyết đấu tranh chống chế độ quân sự hóa học đường của Mỹ - Ngụy. Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều năm. Đến tháng 8/1970, các phòng quân sự ở các phân khoa đại học Cần Thơ, Huế, Đà Lạt, Sài Gòn đã bị thanh niên học sinh các trường đốt sạch. Cuối tháng 8 năm đó, sinh viên Phạm Hạnh bị chết ở quân trường Quang Trung, sinh viên đã biến đám tang anh thành cuộc biểu tình với khẩu hiệu: "Chương trình quân sự hóa học đường là âm mưu khát máu của đế quốc Mỹ" và "Mỹ cút, ngụy nhào, quân sự học đường dẹp"... 1700 học sinh, sinh viên đã xô xát với một tiểu đoàn lính ngụy canh giữ quân trường để đưa tang anh Hạnh.
Phong trào đòi "tự trị đại học" chống "quân sự hóa học đường" của học sinh, sinh viên ngày càng phát triển. Nhiều cuộc biểu tình bằng xe máy, tán phát hàng vạn truyền đơn, liên tục nổ ra. Địch đàn áp, bắt nhiều sinh viên lãnh đạo phong trào như các anh Nguyễn Ngọc Phương, Trần Khiêm, Dương Văn Đầy, Nguyễn Tấn Tài... Ngày 11/3/1970, chúng bắt anh Huỳnh Tấn Mẫn, Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Phong trào đấu tranh đòi thả sinh viên, học sinh bị bắt nổ ra rầm rộ. Một đoàn các giáo sư và dân biểu quốc hội của chế độ ngụy đã vào nhà tù thăm học sinh, sinh viên bị bắt, sau đó công bố rộng rãi trên báo chí bằng chứng cụ thể về bọn mật vụ, công an đã dùng nhục hình tra tấn 41 học sinh vừa bị bắt. Bãi khoá liên tiếp nổ ra ở các trường đại học, trung học. Số học sinh, sinh viên Sài Gòn tham gia lên tới 6 vạn người.
Thanh niên, học sinh, sinh viên còn sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh gây ấn tượng mạnh. Trong đó có phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe, nghe đồng bào tôi nói", không chỉ tác động mạnh trong các giới đồng bào ở Sài Gòn mà đã lan rộng ra nhiều thành phố và vùng nông thôn rộng lớn.
Trên chiến trường miền Nam, cùng với việc đánh bại những cuộc hành quân ngăn chặn của địch ở phía trước, tuổi trẻ cùng quân và dân các địa phương tiếp tục bao vây dài ngày, tiêu diệt hàng loạt căn cứ quan trọng của địch ở các khu giáp ranh vùng đồng bằng và ven đô thị như Đắc Xiêng (Bắc Kon Tum), Cốc Bài, Đá Bàn (Tây Trị Thiên). Tại thành phố Huế, quân ta vây và tiêu diệt địch ở điểm cao 935. Tại Quảng Nam, quân ta buộc địch rút ở Hiệp Đức, loại hơn 4.100 tên, có 200 tên Mỹ, 159 máy bay, 59 xe tăng, xe bọc thép bị phá huỷ.
Trong chiến đấu, tuổi trẻ miền Nam tỏ rõ tài trí và tinh thần quả cảm đánh địch nhiều trận hết sức độc đáo. Trường hợp của đội An ninh vũ trang tỉnh Mỹ Tho chiến đấu trong điều kiện không cân sức để bảo vệ căn cứ Tỉnh uỷ ở Long Tiên khi bất ngờ bị lực lượng lớn địch tấn công là một trận đánh khá táo bạo. Lực lượng chênh lệch 1 phải chọi với 50, không thể đối mặt chặn đánh địch, các chiến sĩ trẻ trong đơn vị, trong đó có Ba Điện (sau này là Anh hùng Lực lượng vũ trang) và Tư Bốn (tức Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Việt Thành hiện nay) đã lựa chọn một phương pháp đánh địch chưa từng có tiền lệ trong chiến tranh hiện đại, nhưng lại phù hợp với điều kiện tác chiến để bảo vệ căn cứ khi địch đông gấp bội. Cách đánh độc đáo đó là chỉ đánh bằng lựu đạn; lựu đạn cài ở "bãi chết", lựu đạn được phóng tới mục tiêu bằng giàn thun... Kẻ địch không tài nào phán đoán được hướng tấn công của đối phương, càng không thể nắm được lực lượng của đội an ninh vũ trang. Trong khi chỉ với những vạch làm điểm chuẩn dưới cân và nút áo của người kẹp lựu đạn (chủ yếu là do Tư Bốn đảm trách) các chiến sĩ an ninh vũ trang được một chiến sĩ ngồi trên cây cao rậm rạp "chấm toạ độ", cũng có thể cho lựu đạn nổ chụp hoặc phang thẳng vào đội hình địch, gây sát thương cho chúng trên diện rộng. Địch tìm cách đối phó. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Với phương châm "lấy của địch đánh địch", các chiến sĩ của ta đã xoay hướng trái gài mìn Playmore của địch. Sáng ra chúng tới chỗ cũ gỡ mìn thì mìn nổ. Thế là gậy ông lại đập lưng ông.
Nam thanh niên chiến đấu thông minh, tài trí. Nhiều nữ thanh niên chiến đấu trong vòng vây của địch cũng tỏ rõ phẩm chất của mình, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm. Dương Thị Lệ tham gia đội du kích của xã được cử làm xã đội phó, kiêm nhiệm vụ y tá của đội. Với túi đồ nghề và khẩu carbine trong tay, Lệ đã cùng đội du kích dũng cảm đánh bật nhiều đợt tấn công của địch. Chúng không tiến nổi phải bung ra đồng trống. Chớp thời cơ, Dương Thị Lệ đã cầm cờ lao lên thúc giục toàn đội xung phong rượt địch, tiêu diệt nhiều tên. Bọn địch hoảng sợ phải bỏ dở cuộc càn chạy về lộ 4. Sau này, Dương Thị Lệ đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang.
Tiêu biểu là người con gái anh hùng Lê Thị Hồng Gấm. Chị lớn lên trên vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức (một tên khác của căn cứ Đồng Tâm - Mỹ Tho), Lê Thị Hồng Gấm đã từng chứng kiến nhiều cảnh dã man, tàn bạo của địch đối với đồng bào, đồng chí mình. Gấm đã tình nguyện gia lập lực lượng du kích ở địa phương, thường xuyên đứng chân trên vành đai, chiến đấu nhiều trận, diệt 20 tên địch (cả Mỹ, ngụy). Ngày 18/4/1970, Lê Thị Hồng Gấm được lệnh dẫn một số cán bộ đi nghiên cứu tình hình. Chuẩn bị vượt qua một khoảng đồng trống, bất ngờ gặp lực lượng địch đi càn. Với quyết tâm bảo vệ cán bộ, một mình một súng, Gấm đã đánh trả bọn địch đông gấp nhiều lần, diệt nhiều tên và bắn bị thương một máy bay lên thẳng của chúng và chị đã hy sinh anh dũng. Năm 1971, chị đã được Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam.
Cùng với đòn tiến công quân sự, hàng triệu lượt đồng bào và thanh niên đã nổi dậy giành chính quyền làm chủ. Sáu tháng đầu năm 1970 hơn 5 triệu lượt đồng bào và tuổi trẻ đồng bằng sông Cửu Long đã nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều vùng. ở Trung Trung Bộ có hơn 80 vạn thanh niên cùng nhân dân nổi dậy, làm tan rã hơn 40.000 tên trong bộ máy ngụy quyền tay sai, giải phóng thêm 270.000 người. Trong ngày lễ Phật Đản năm 1970 có tới 25 vạn đồng bào phật tử ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng... xuống đường đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh xâm lược, lên án Mỹ - ngụy giết hại Việt kiều ở Campuchia. Phối hợp với các cuộc đấu tranh trên, hơn 70.000 công nhân, thuộc 118 nghiệp đoàn Sài Gòn đã bãi công. Tiếp đó, 100.000 công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn lại bãi công đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi Mỹ cút về nước.
Năm 1971, trên chiến trường miền Nam tuổi trẻ góp phần đánh bại các cuộc hành quân lớn của địch như: Lam Sơn 719 và cuộc hành quân ra vùng 3 biên giới. Trong đó cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào khu vực đường 9 Nam Lào là cuộc hành quân điển hình của chiến lược Việt Nam hóa. Tiếp sức cho cuộc hành quân của chúng còn có các lực lượng quân ngụy Viêng Chăn và lính đánh thuê Thái Lan từ căn cứ Xênô và Pắc xế đánh vào phía Tây đường số 9 và cao nguyên Bôlôven.
Sau nhiều trận đánh phủ đầu quyết liệt vào những căn cứ bàn đạp của địch ở Khe Sanh, Đông Hà, Lao Bảo (Bắc Quảng Trị), ngày 8/2/1971, phối hợp cùng quân và dân Lào, các chiến sĩ ta đã dũng mãnh xông lên đánh chiếm Sêpôn, cứ điểm xung yếu của địch ở Nam Lào. Tiếp đó đánh các cứ điểm Phu Lan, Nậm Lực, La Tương, Cha Ky. Cuộc bao vây đánh chiếm bản Đông của quân ta bắt đầu từ ngày 13/3, các chiến sĩ trẻ, phần lớn trưởng thành từ phong trào "Ba sẵn sàng", trải qua thử thách ác liệt của chiến trường, tỏ ra hết sức vững vàng và có nhiều mưu trí sáng tạo trong cách đánh địch ở cứ điểm, cũng như đánh địch đến ứng cứu. Sau 5 ngày chiến đấu quyết liệt, ta đã buộc địch rút chạy khỏi cứ điểm và đến ngày 20/3 địch hoàn toàn bị tiêu diệt, phá tan âm mưu của chúng, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn qua đường Hồ Chí Minh. Đường Hồ Chí Minh vẫn do ta làm chủ. Trong năm 1971, Bộ Tư lệnh 559 vẫn chỉ huy việc vận chuyển hàng ra tiền tuyến đảm bảo từ 95 đến 100% kế hoạch. Riêng tháng 2/1971 đã vận chuyển được 13.608 tấn, đạt 91% kế hoạch.
Năm 1972, tiếp tục thế tiến công, quân và dân ta đẩy địch ngày càng lún sâu vào thế bị động phòng ngự, và từ cuối tháng 3 mở cuộc tiến công chiến lược đập nát một trong 3 tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở đường số 9, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ, tiếp tục bao vây uy hiếp địch ở Đông Hà, ái Tử, La Vang, thị xã Quảng Trị, vây ép thành phố Huế dài ngày. Ngày 24/4 mở đợt tiến công quyết định ở các vị trí này. Tuổi trẻ và đồng bào ở hai huyện Hải Lăng, Triệu Phong và dọc đường số 1 đã nổi dậy đồng loạt làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch.
Với lối đánh thọc sâu dũng mãnh, các chiến sĩ trẻ trên mặt trận Quảng Trị đã đập nát hệ thống phòng ngự mạnh nhất của địch ở ái Tử, La Vang, Tích Tường. Đinh Văn Hoè người chiến sĩ trẻ, trở thành ngọn cờ chiến đấu xuất sắc cùng đơn vị đánh địch suốt dọc đường 9, qua vùng đồng bằng Hải Lăng, tiến vào tuyến sông Mỹ Chánh. Một mình Hoè sử dụng thành thạo 6 loại súng của ta, 3 loại súng lấy được của địch, bắn gục 4 máy bay Mỹ, thiêu cháy xe bọc thép, bắt sống M113 của địch. Đinh Văn Hoè thường nói: "Được làm chiến sĩ thọc sâu là vui sướng nhất". Anh đã bám địch đến cùng, hễ ở đâu có địch là anh xốc tới. Noi gương Hoè, các chiến sĩ trẻ trong đơn vị do chính trị viên Đống chỉ huy đã chiến đấu quyết liệt không cho địch co cụm lại ở Tri Bưu, cản đường tiến của quân ta vào thị xã Quảng Trị. Quyết, Duy, rồi Sâm, Vi, Lộc... những thanh niên rất trẻ xông xáo, dũng mãnh như những mũi dao sắc nhọn đánh chiếm từng bờ tường trong một khu nhà thờ hai tầng cạnh nhà thờ Tri Bưu, quét sạch địch ra khỏi hang ổ, bắn cháy cả máy bay địch đến chi viện cho đồng bọn.
Đến ngày 2/5/1972, quân ta đã chọc thủng tuyến phòng thủ, đuổi địch về phía bờ Nam sông Mỹ Chánh, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hương Điền, Thừa Thiên. Tháng 6/1972, tiếp tục truy kích địch ở phía Tây sông Mỹ Chánh và phía Nam sông Hương, tiếp tục vây ép thành phố Huế. Đến ngày 26/6, chiến dịch Trị Thiên thắng lợi, ta tiêu diệt 24.070 tên địch, bắt sống 3358 tên, phá huỷ 636 xe, bắn rơi 340 máy bay các loại, loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn bộ binh số 3 và đánh thiệt hại nặng sư đoàn lính thuỷ đánh bộ của địch.
Bị thua đau, bè lũ Mỹ - ngụy liều lĩnh mở cuộc hành quân Lam Sơn 72 hòng giành lại những vùng đất đã mất. Chúng huy động tới 2 sư đoàn quân dự bị chiến lược và một lực lượng lớn quân biệt động ngụy cùng với trang bị mới vào trận, có không quân và hải quân Mỹ yểm trợ tới mức tối đa. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt 82 ngày đêm làm cho quân địch ngày càng sa lầy trong thế thất bại. Một lực lượng lớn quân dự bị chiến lược bị giam chân và bị tiêu hao dần. Các chiến sĩ ta càng đánh càng tỏ ra ngoan cường. Trong đó nổi bật là cuộc chiến đấu của các chiến sĩ trẻ trong thành phố Quảng Trị, được coi là bản anh hùng ca chói ngời chiến công. Trong những điều kiện chiến đấu cực kỳ ác liệt, trên trời máy bay B52 rải thảm, dưới đất pháo bầy, pháo chụp tới tấp dội bão lửa, các chiến sĩ trẻ đã bám trụ từng ụ đất, từng bờ thành, kiên cường chiến đấu, thể hiện phẩm chất cách mạng tuyệt vời của mình. Vũ Trung Thướng cùng đơn vị của anh đã trở thành niềm tự hào, niềm tin tưởng mãnh liệt cho đồng đội khi mỗi chiến sĩ ở đây dũng mãnh giữ một hướng tiến công, sử dụng thành thạo 6 loại vũ khí. Với tinh thần "mỗi chiến sĩ là một Lê Mã Lương", từng chiến sĩ trên trận địa đã dám chọi với hàng trăm địch. Linh hồn của những trận chiến đấu ngoan cường ấy là chính trị viên trẻ tuổi Vũ Trung Thướng và các chiến sĩ trẻ Tăng Bá Bình, Tạ Đình Giong, v.v... Nói về trận địa thép ấy, xã luận báo Quân đội Nhân dân viết: "Đơn vị Vũ Trung Thướng tiêu biểu cho tinh thần cách mạng tiến công của các chiến sĩ quân giải phóng trong thời kỳ chiến đấu mới".
Cùng với Vũ Trung Thướng, trên nhiều hướng tiến công, các chiến sĩ trẻ trong các đơn vị đều tỏ rõ tinh thần kiên cường bám trụ đánh địch trong mọi tình huống, 25 chiến sĩ trẻ trong một ngày đánh lui 10 đợt phản kích của 2 tiểu đoàn địch. Các chiến sĩ trinh sát Hồng và Ba luồn sâu vào sau lưng địch bám trụ trong những địa hình phức tạp, theo dõi địch, làm tai mắt cho pháo binh bắn chính xác vào mục tiêu địch. Chiến sĩ thông tin Mai Ngọc Thoảng, giữ vững đường dây liên lạc dưới mưa bom bão đạn suốt 48 ngày đêm. Có những lần đường dây thông tin bị đánh đứt, dưới làn đạn địch, không kịp nối, anh dùng răng cắn chặt 2 đầu dây cho tín hiệu đi qua, kịp thời phục vụ chỉ huy chiến đấu.
Trong thế tiến công mạnh mẽ trên toàn chiến trường miền Nam, tuổi trẻ quân đội đã lập công xuất sắc, góp phần tiêu diệt những đơn vị chủ lực lớn của địch trong một thời gian ngắn, 8 trong số 13 sư đoàn của ngụy Sài Gòn đã bị loại khỏi vòng chiến đấu hoặc bị đánh thiệt hại nặng. Nhiều vùng đất đai rộng lớn được giải phóng, ở Quảng Trị, Đắc Tô, Bình Định, Bình Phước…
Trước tình hình vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, giữa năm 1972, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về những công tác trước mắt nhằm củng cố các vùng giải phóng và đề ra nhiệm vụ cụ thể để đẩy mạnh phong trào cách mạng trong quần chúng.
Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng cơ sở chính trị, kinh tế trong các vùng mới giải phóng, Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng và Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam đã chủ trương chỉ đạo một trong 5 nội dung của phong trào "Năm xung phong" là "xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội" và nhấn mạnh "Phải xung phong đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hơn nữa ở các vùng giải phóng để xây dựng một lực lượng dự trữ dồi dào cho kháng chiến, để đồng bào từ các vùng bị địch kìm kẹp trở về có đủ lương thực". Để cụ thể hóa nhiệm vụ "xung phong sản xuất và thực hành tiết kiệm trong thanh niên nông thôn", thường xuyên chỉ đạo các cấp quan tâm, động viên tổ chức đoàn viên và thanh niên đẩy mạnh sản xuất trong mọi tình huống, ngay cả ở những vùng địch tiến hành gom bắt dân ác liệt. Bằng mọi hình thức đấu tranh chính trị và vũ trang khởi nghĩa, đoàn viên, hội viên và thanh niên đã cùng bà con cô bác bung ra, trở về quê cũ làm ăn theo cách "lúc đầu bung ra gần, dần dần bung ra xa". Nhiều nơi đoàn viên và thanh niên với tinh thần "năm xung phong", thanh niên đã thật sự làm nòng cốt trong việc khai hoang, phục hóa và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến như thay giống lúa dài ngày bằng giống lúa ngắn ngày, bón phân, tưới tiêu hợp lý. Kẻ địch dùng kế mị dân, đưa nhiều biện pháp canh tác tiên tiến áp dụng vào đồng ruộng nhằm thâm canh tăng năng suất cây trồng. Đoàn viên và thanh niên nhiều địa phương đã biết lợi dụng cơ hội thuận lợi đi đầu sử dụng những giống lúa mới có năng suất cao đưa về áp dụng ở nông thôn và mạnh dạn vận dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến làm cho sản xuất ngày càng đạt hiệu quả cao. ở Mỹ Tho, thanh niên các cơ sở, nhất là những nơi bom đạn ác liệt, xung quanh các căn cứ địch đã lợi dụng các hình thức hợp pháp để tổ chức sản xuất. ở các vùng giặc đánh phá có tính huỷ diệt, muốn biến thành đồng hoang nhà trống... thanh niên đều xung phong đến sản xuất. Họ theo dõi chặt quy luật đánh phá của địch, tổ chức canh gác, bảo vệ, để bám đồng ruộng gieo mạ, làm cỏ, bón phân. Có xã địch thường xuyên cho máy bay phá nương rẫy, cho biệt kích lén lút bắt cóc và bắn bừa bãi vào nhân dân, một số bà con không dám ra nương rẫy sản xuất. Thanh niên đã cùng với lực lượng du kích tăng cường tuần tra, canh gác, gương mẫu đi sản xuất trước để lôi kéo bà con. Nơi nào có đoàn viên, hội viên, thanh niên đi làm thì nhân dân cùng đến làm. Xóm 4, một xóm rộng khoảng 5km2 thuộc vùng trọng điểm bình định của địch, thường xuyên bị địch bắn phá ác liệt. Số bom địch ném xuống gấp 4, 5 lần số dân. Nhưng nhờ có ruộng đất được chia và có thanh niên đi đầu góp phần đẩy mạnh tăng gia sản xuất và chăn nuôi nên nhà nào cũng no đủ. Có nơi thanh niên còn đi đầu trong việc tổ chức làm ăn tập thể trong các tổ vần công, đổi công, tổ chức làm những thí nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi.
Phong trào "Xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội" đặc biệt sôi nổi ở các vùng giải phóng. Với ý thức sản xuất thêm một hạt thóc là góp phần chống Mỹ cứu nước, đoàn viên, hội viên và thanh niên cùng bà con nông dân, mà số đông là chị em nữ thanh niên đã xung phong gánh vác mọi công việc đồng áng và quản lý gia đình để chồng, con em rảnh rang lên đường đi chiến đấu. Thanh niên đã tổ chức bám ruộng vườn vừa sản xuất, vừa chống giặc, đào hầm hào khắp trong thôn xóm và cả trên đồng ruộng để chiến đấu khi địch càn đến, để bảo vệ người và gia súc. Diện tích cày cấy ngày một tăng lên. Có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến được thanh niên học tập đem về áp dụng và vận động bà con cùng làm, nên năng suất lúa tăng lên rõ rệt.
Về chăn nuôi, số lợn, gà vịt ở nhiều nơi cũng đã tăng lên từ 2 đến 4 lần. Ngoài ra, được Mặt trận khuyến khích, giúp đỡ, các ngành nghề khác như đánh cá, làm muối, nước mắm, lò rèn v.v... cũng được phát triển.
Các mặt y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ trong các vùng giải phóng được đoàn viên và thanh niên tích cực tham gia. Nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn, nhiều tổ chức cơ sở Đoàn đã nhận những công trình mang tên 26/3, như xây dựng trường học, nhà trẻ, trạm y tế... Bộ mặt của nông thôn vùng giải phóng ngày càng mang dáng nét mới khác hẳn những "ấp tân sinh", "ấp đời mới" ở giữa vùng Mỹ-ngụy còn tạm kiểm soát.
Được sự hướng dẫn của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, thanh niên là lực lượng nòng cốt tham gia củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang và an ninh địa phương. ở các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công (nay là Tiền Giang) đã có hơn 8000 thanh niên từ vùng gom dân của địch trở về vùng giải phóng và tích cực tham gia phong trào thanh niên. Nhiều nơi trước kia đội du kích thiếu và yếu, nhưng qua những đợt hoạt động trong năm 1972, lực lượng được tăng cường, có khả năng độc lập tác chiến như các đội du kích ở Tân Hội, Mỹ Hạnh Đông v.v... Riêng khu V, năm 1972 đã có 24.476 thanh niên tòng quân, gấp 4 lần năm 1969, 5 lần năm 1970. Nhiều cán bộ còn thâm nhập vào các "túi" thanh niên trốn lính ở Toà thánh Tây Ninh, các thánh thất Cao Đài, các chùa Hoà Hảo, cù lao Đạo Dừa... để vận động thanh niên trở về. ở khu 9 năm 1972 đã vận động được 15.982 người bị địch bắt quay về tham gia công tác cách mạng và có 10.183 thanh niên tòng quân, trong đó có nhiều thanh niên ta vừa giành giật được từ tay địch.
*
* *
Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết (1/1973), đế quốc Mỹ buộc phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt sự dính líu quân sự và can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến và xâm lược, đế quốc Mỹ vẫn không chịu từ bỏ chính sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện "học thuyết Nichxon", áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Trước khi rút quân, đế quốc Mỹ đã đưa thêm vào miền Nam nước ta 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép các loại, nhiều tàu chiến và tăng cường dự trữ vật tư chiến tranh lên mức cao nhất tới gần 2 triệu tấn. Sau khi rút quân, đế quốc Mỹ còn duy trì một lực lượng mà chúng gọi là "lực lượng răn đe" ở Đông Nam á gồm không quân, hải quân, hàng loạt nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự được để lại ở miền Nam nước ta.
Được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, Hiệp định Pari vừa ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét "tràn ngập lãnh thổ", tập trung lực lượng thực hiện các "kế hoạch bình định 3 năm 1973-1975", "kế hoạch bình định 6 tháng", "kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt", "kế hoạch xây dựng quân đội 1974 - 1979" v.v... Riêng trong năm 1973, Mỹ - Thiệu đã tổ chức vây bắt 240.000 thanh niên đưa vào các sắc lính, thực hiện đôn quân một cách trắng trợn, và đến cuối năm, lực lượng quân ngụy đã lên tới trên 700.000 tên, cộng với 1.500.000 tên trong lực lượng địa phương, bảo an, phòng vệ dân sự có vũ trang. Chúng hò hét "bắn bỏ" tất cả những ai đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pari, đòi dân sinh, dân chủ... Hàng vạn người yêu nước, mong muốn hòa bình bị chúng bắt vào tù sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, chưa kể số 200.000 tù chính trị và 15.000 tù quân sự bị chúng giam giữ trái phép không chịu trao cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam như Hiệp định dã quy định.
Với thủ đoạn nham hiểm không cho đối phương kịp trở tay, khi các đại biểu của Mỹ - Thiệu vừa bước ra khỏi phòng họp ở phố Klê-be (Pari) thì ở miền Nam chúng tung ra một lực lượng đánh phá điên cuồng các căn cứ "lõm" của ta trong vùng chúng kiểm soát, lấn chiếm các vùng đã được giải phóng trước khi ký Hiệp định. Chỉ trong 11 tháng của năm 1973, địch đã sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương mở trên 360.000 cuộc hành quân lớn, nhỏ lấn chiếm và tiến công với lực lượng lớn vào các vùng giải phóng của ta như Sa Huỳnh, Bắc Kon Tum, Chư Nghé, Kiên Đức, Quảng Đức, Mỹ Tho, Chương Thiện, núi Dài, Tri Tôn v.v... mọi hành động đánh phá điên cuồng của chúng đều nhằm xoá bỏ trạng thái hai vùng, hai quân đội, hai chính quyền, biến miền Nam thành một vùng do chúng tự do kiểm soát, kìm kẹp, thống trị.
Ngày 30/01/1973, ủy ban TW Hội LHTN Việt Nam đã họp phiên đặc biệt nghe báo cáo về kết quả cuộc đàm phán tại Pari và nghiên cứu lời kêu gọi của Ban Chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lời kêu gọi của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam trước thắng lợi cực kỳ oanh liệt của dân tộc ta, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.
Tháng 7/1973, Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng lần thứ II và sau đó là Hội nghị Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng đã được tiến hành tại vùng căn cứ Tây Ninh. Tại Đại hội, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam đã trao cho tổ chức Đoàn, tổ chức Đội và phong trào thanh niên 2 lá cờ thêu dòng chữ: "Thế hệ anh hùng, thắng Mỹ vẻ vang, thanh niên anh dũng tiến lên" và "Phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, tiếp tục sự nghiệp của Bác Hồ vĩ đại, thiếu niên hãy sẵn sàng". Đại hội đã tập trung trí tuệ đánh giá công tác tổ chức chỉ đạo phong trào "Năm xung phong" trong toàn miền và quyết định chuyển phong trào "Năm xung phong" thành phong trào "Ba xung phong giành giữ hòa bình", bao gồm:
- Xung phong đấu tranh chính trị.
- Xung phong tham gia xây dựng lực lượng vũ trang.
- Xung phong xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.
Đồng chí Phan Minh Tánh được bầu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.
Nhận rõ bản chất của kẻ địch, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) trong Hội nghị lần thứ 21, tháng 10/1973 đã chỉ ra rằng: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới".
Thực hiện quyết tâm của Đảng, ý thức đầy đủ trách nhiệm của thế hệ trẻ trước vận mệnh của Tổ quốc, hàng chục triệu đoàn viên, hội viên và thanh niên trong cả nước đã siết chặt hàng ngũ thực hiện sứ mệnh lịch sử là đội quân xung kích cách mạng trên mọi trận tuyến, chiến đấu và xây dựng, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bước vào giai đoạn chuẩn bị với quy mô chưa từng có, nhằm đưa sự nghiệp cách mạng lâu dài và gian khổ của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Từ đầu năm 1974, cùng với việc phản công làm thất bại kế hoạch "bình định", "tràn ngập lãnh thổ" của địch, mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng, đặc biệt giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, dồn địch vào thế bị động, lúng túng... hàng chục vạn đoàn viên và thanh niên đã hăng hái gia nhập quân đội góp phần nhanh chóng xây dựng các binh đoàn chủ lực có đủ các binh chủng kỹ thuật, là bước trưởng thành mới của quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi của cuộc chiến đấu trong giai đoạn mới. Pháo cơ giới tầm xa, tên lửa và những xe tăng loại tốt lần đầu tiên có mặt trên các chiến trường Nam Bộ.
Công việc chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược ngày càng hết sức khẩn trương. Với quyết tâm "Tranh thủ từng giờ mở thêm đường mới", 35.000 đoàn viên, hội viên và thanh niên trong lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (nhiệm kỳ 3) cùng với các chiến sĩ binh đoàn Trường Sơn đã lao động quên mình mở thêm hàng ngàn ki-lô-mét đường. Con đường chiến lược Đông Trường Sơn được mở ra những năm trước được nâng cấp nối liền đường 9 Quảng Trị vào đến miền Đông Nam Bộ. Đến đầu năm 1975, tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch lên đến trên 20.000 km. Chiến công mở đường của tuổi trẻ đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khen ngợi.
Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn còn có hệ thống 5.000 km đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, đủ sức tiếp tế xăng dầu cho hàng chục nghìn xe các loại vào ra trên đường. Các chiến sĩ thông tin trẻ tuổi cũng góp phần to lớn kéo dài đường dây thông tin hữu tuyến từ Hà Nội tới Lộc Ninh đảm bảo trong bất kỳ tình huống nào cũng có thể truyền đạt được Chỉ thị của Trung ương đến mọi chiến trường.
ở các địa phương trên chiến trường miền Nam tình hình có những chuyển biến mau lẹ. Nhiều cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên nổ ra thu hút nhiều tầng lớp nhân dân cùng tham gia. Ngày 16/3/1974 hàng ngàn học sinh, sinh viên cùng lực lượng trí thức, nhân sĩ, tôn giáo bất ngờ tập trung tại chợ Bến Thành, rải truyền đơn đòi trả tự do cho sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Tổng thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn và tù chính trị đang bị giam giữ. Ngày 25/8/1974 các tầng lớp thanh niên Sài Gòn lại tổ chức tưởng niệm nữ sinh Quách Thị Trang, thu hút cả nhiều dân biểu và trí thức cùng tham dự, sau đó tuần hành qua các phố lớn. Ngày lễ Noen 24/12/1974, 11.000 sinh viên công giáo tập hợp trong "Uỷ ban hành động cho công bằng xã hội" tổ chức mít tinh tại nhà thờ dòng Chúa Cứu thế và nhà thờ Vườn Xoài, chống bắt sinh viên đi lính.
Nhiều vùng giải phóng được mở rộng. ở những nơi này đã xuất hiện lực lượng "thanh niên bảo vệ vùng giải phóng" được trang bị vũ khí vừa làm nhiệm vụ đánh địch, vừa đảm bảo an ninh trật tự cho nhân dân. Tổ chức Đoàn, Hội ở nhiều địa phương được củng cố và phát triển. ở Nam Bộ đến tháng 12/1974 chỉ còn từ 18-20% ấp "trắng" chưa có đoàn viên, hội viên (2000 ấp trong tổng số 11.000 ấp). Tây Nam Bộ có 2025 ấp thì có 1490 ấp có tổ chức Đoàn, Hội chiếm 73%.
Các cơ sở Đoàn, Hội có nhiều hoạt động thiết thực chuẩn bị đón nhận thời cơ chiến lược. Đáng chú ý là phong trào tòng quân, đi dân công phục vụ chiến trường đã diễn ra sôi nổi ở hầu khắp các địa phương. Cuối năm 1973, riêng Củ Chi đã có trên 3000 thanh niên tòng quân. ở Mỹ Tho - Gò Công, những ngày cao điểm có từ 3000 đến 5000 lượt thanh niên tham gia phục vụ chiến đấu. Riêng tháng 4/1975, có trên 40.000 lượt thanh niên trong tỉnh đi dân công phục vụ trên các mặt trận.
ở nhiều nơi, phòng vệ dân sự của địch hầu hết bị rã, chỉ còn lại vùng thị xã, thị trấn, song thường xuyên cũng bị đánh phá, hiệu lực hoạt động không đáng kể, kể cả lực lượng phòng vệ xung kích. Lợi dụng tình hình kẻ địch đang hoang mang ta bố trí một số thanh niên nòng cốt vào trong các tổ chức phòng vệ của chúng chờ thời cơ hành động.
Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, 2 giờ sáng ngày 10/3/1975, các chiến sĩ ta đã nổ súng đánh chiếm Buôn Ma Thuột, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975. Nhiều chiến sĩ trẻ lần đầu ra trận đã ngoan cường cùng đồng đội đánh chiếm từng mục tiêu, chặn từng đoàn xe địch. Bằng 2 phát đạn B40 chiến sĩ trẻ Triệu Kim Thành đã bắn cháy 2 xe M113. Các chiến sĩ trẻ Thắng, Hoà, Nguyên cũng dùng súng M72 lấy được của địch, bắn gục từng chiếc M113 đi đầu. Bọn địch hoang mang bỏ chạy.
Ngay từ giờ phút đầu của cuộc tiến công, đồng bào thị xã Buôn Ma Thuột, đặc biệt là anh chị em thanh niên các dân tộc, được sự hướng dẫn của các cơ sở cách mạng, đã nổi dậy giành quyền làm chủ, giúp sức đắc lực cho bộ đội truy quét địch, tiếp đạn, tải thương, phát hiện kho tàng và nơi ẩn náu của địch. Nhiều tổ thanh niên vũ trang đã phối hợp cùng bộ đội truy kích, gọi hàng trăm tên giặc bắt hàng chục tên ác ôn đầu sỏ.
Cùng với đòn tiến công chiến lược ở Buôn Ma Thuột, các lực lượng vũ trang của ta tích cực bao vây Plâycu, triệt cả đường bộ và đường không của địch. Địch hoang mang cao độ. Ngày 16/3/1975 chúng phải rút khỏi Plâycu, tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Quyết tâm không cho chúng chạy thoát, các chiến sĩ ta động viên nhau: "Đi nhanh cho đến, đánh nhanh cho thắng". Phối hợp chặn đánh địch còn có những người con của núi rừng Tây Nguyên, như đội du kích của anh hùng Pui Thu, từng diệt xe bọc thép địch trên đường, bắn rơi máy bay, giải phóng một lúc 13 ấp. Và Y Len, một cô gái người dân tộc 19 tuổi, chỉ huy một đại đội vận tải, trong điều kiện nào cũng có mặt, cõng trên vai hàng trăm kilogam hàng. Trước khi đi chiến đấu, Y Len được mẹ trao cho một chiếc gùi và một ống nứa trong có đựng hình Bác Hồ, kỷ niệm của người cha thân yêu để lại. Y Len luôn mang theo hình ảnh Bác Hồ bên mình khi đi làm nhiệm vụ, với một tâm niệm: "Đi cách mạng để đền ơn Bác Hồ".
Bằng một cố gắng phi thường, thanh niên cùng quân và dân ta đã chốt chặt con đường tháo chạy của địch và tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến.
Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì ở Trị Thiên - Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng nhiều hoạt động phối hợp cũng được mở ra. Các chiến sĩ trong các đơn vị bộ đội địa phương, cùng với hơn 100 đội công tác vũ trang được tuyển chọn trong những cán bộ, đoàn viên, thanh niên ưu tú, đã thọc xuống các vùng sâu, vừa chuẩn bị chiến trường, vừa mở cuộc tiến công từ trong lòng địch làm cho địch rất hoang mang. Ngày 19/3/1975, chính các lực lượng vũ trang địa phương và các đội vũ trang công tác này đã đón đúng thời cơ, táo bạo tổ chức cuộc tiến công giải phóng thị xã Quảng Trị, và sau đó giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị.
Tuổi trẻ thành phố Huế dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành uỷ, đã khẩn trương chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Nhiều mũi công tác đã luồn sâu vào các khu dân cư phát động quần chúng. Nhiều đơn vị tự vệ thanh niên, sinh viên, học sinh giải phóng đã được cấp tốc thành lập. Đúng vào ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng, đoàn công tác xã hội nữ sinh liên khoa Huế (một tổ chức hợp pháp được thành lập từ năm 1973) đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở sân trường Đại học Sư phạm với lời kêu gọi thiết tha: "Thành phố này mãi mãi là của chúng ta".
Cùng thời gian đó, theo lệnh của Thành uỷ, một đơn vị tự vệ của sinh viên bí mật đến chốt tại trụ sở "Sinh viên vụ" số 15 Phan Đình Phùng, và sau đó, 3 tổ tự vệ khác đến chốt ở 3 ngôi nhà cao tầng để giữ 3 cây cầu bắc qua sông An Cựu. Khi bộ đội chủ lực chọc thủng tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, đập nát tuyến phòng thủ Phú Bài, cắt đứt đường bộ và đường biển ở cửa Thuận An, nhiều tổ tự vệ cải trang mặc áo lính ngụy, mang súng M16 bắt đầu xuất hiện kiểm soát những nơi xung yếu trong thành phố, chờ thời cơ phối hợp với bộ đội chủ lực nổi dậy đánh chiếm thành phố.
Thường vụ Thành uỷ Huế chỉ thị cho Thành Đoàn triển khai toàn bộ lực lượng cùng nhân dân chuẩn bị sẵn sàng. Thành Đoàn và Hội Thanh niên, Hội Sinh viên thành phố phát lời kêu gọi các binh sĩ trẻ trong quân đội ngụy: "Con đường thoát của các bạn không phải là Đà Nẵng hay Sài Gòn mà là con đường về với đồng bào và cách mạng. Hãy nhận rõ thời cơ ngàn năm có một quay súng lập công chuộc tội". Truyền đơn được in ngay, tung vào những nơi có đông binh sĩ ngụy tụ tập.
Cuộc chiến đấu giải phóng thành phố Huế đặc biệt diễn ra ác liệt ở sân bay Đồng Tâm. Bọn địch ngoan cố co cụm lại chống cự. Từ 3 hướng, xe tăng cùng bộ binh quân giải phóng áp sát. Vũ Văn Mai dẫn đầu mũi tiến công của phân đội 1, cho xe mình vọt lên, gặp một cụm xe tăng M48 của địch án ngự, Mai ra lệnh dùng đạn xuyên tiêu diệt ngay một chiếc. Hầu như cùng một lúc các xe tăng đều nhả đạn, 4 xe địch bị bốc cháy. Thi đua với các chiến sĩ xe tăng, một mũi đột kích của bộ binh, toàn các chiến sĩ trẻ, đã diệt gọn một tốp xe tăng địch khi chúng tìm đường tháo chạy. Trong khi đó ở Quân khu 5 nhận được chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng đã đồng loạt mở cuộc tấn công về hướng Bắc nhằm mục tiêu giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam mà quân địch đang co cụm chống đỡ.
Phối hợp với các cánh quân từ ngoài đánh vào, Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng đã khẩn trương chuẩn bị tổ chức lực lượng nổi dậy. Hàng trăm cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên đã được bố trí luồn sâu vào sau lưng địch, móc nối với lực lượng bí mật tại chỗ trong thành phố, đặc biệt là các cơ sở thanh niên trong các trường học, xưởng máy. ở nhà máy điện Liên Trì, thanh niên đã cùng với công nhân lớn tuổi tổ chức thành đội ngũ, làm việc liên tục 12 giờ một ngày, với khẩu hiệu: "Bám nhà máy duy trì sản xuất phục vụ nhân dân, đón chờ cách mạng". Nhiều đơn vị tự vệ được bí mật thành lập, trang bị ngay bằng các vũ khí lấy được của địch.
Để làm tan rã tinh thần lính địch đang hoang mang cực độ, nhất là bọn tàn binh từ Huế, Quảng Trị và các nơi khác chạy về, đoàn viên, hội viên và thanh niên ở các cơ sở đã tổ chức thành nhiều nhóm công tác đi tuyên truyền, kêu gọi lính ngụy bỏ ngũ về nhà. 3200 lính mới ở căn cứ Hoà Cầm đã nổi dậy đấu tranh quyết liệt với bọn chỉ huy, phá bỏ căn cứ, chạy sang hàng ngũ cách mạng. Khi những quả đạn pháo lớn của quân giải phóng nã vào sân bay Đà Nẵng, căn cứ Hoà Khánh, nơi đóng Bộ Tư lệnh quân đoàn 3 ngụy, cảng Sơn Trà... hàng ngàn người bị địch bắt giam ở nhà lao Non Nước đã nổi dậy diệt ác, phá nhà lao.
Ngày 26/3/1975, sư đoàn 2, Quân khu V do Anh hùng Nguyễn Chơn chỉ huy, chọc một mũi sắc nhọn giải phóng Tiên Phước, Phước Lầm rồi Tam Kỳ và tiến đánh vào Nam thành phố Đà Nẵng. Ngày hôm sau, từ phía Bắc, đoàn Thành Nam vừa góp phần tiêu diệt địch ở quận lỵ Phú Lộc, đã nhanh chóng vượt qua đèo Hải Vân, diệt căn cứ chốt chặt của địch ở Lăng Cô, sau đó phối hợp với một đơn vị xe tăng tiến vào thành phố Đà Nẵng. Cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra xung quanh bán đảo Sơn Trà. Địch dựa vào từng hốc đá dọc bán đảo ngoan cố chống lại bộ binh và xe tăng của ta. Một tổ chiến đấu của đại đội 3 đoàn Ba Gia do Hoàng Xuân Công dẫn đầu đã xông ra giữa cầu Trịnh Minh Thế, lợi dụng từng thanh dầm đánh trả địch. Công bị đạn địch xuyên thủng bàn tay. Anh tự băng bó lấy và tiếp tục áp sát địch. Cùng lúc xe tăng ta vượt qua cầu. Bọn địch hốt hoảng xô nhau chạy. Cả bọn nhân viên kỹ thuật trên các trạm ra-đa của không quân và hải quân ngụy trên đỉnh núi Sơn Trà đang điều khiển máy bay lên xuống cũng hốt hoảng bỏ cả hồ sơ tài liệu chạy tháo thân.
Sau 30 giờ chiến đấu quyết liệt, kể từ lúc mở cuộc tiến công vào thành phố, các lực lượng vũ trang giải phóng đã cùng thanh niên và nhân dân Đà Nẵng tiêu diệt và làm tan rã 100.000 quân ngụy, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng - một căn cứ liên hợp mạnh của địch.
Ngày 25/3/1975, sau những chiến thắng dồn dập của quân và dân ta, tại Thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp phiên họp lịch sử, khẳng định "Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam". Bộ Chính trị chủ trương tập trung nhanh nhất lực lượng binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả 2 miền Nam - Bắc biến quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng thành hiện thực, giành thắng lợi cuối cùng. Hàng chục vạn đoàn viên và thanh niên, kể cả những thanh niên ở vùng mới giải phóng, xung phong gia nhập quân đội, góp phần xây dựng những đơn vị mới, kịp thời bổ sung cho chiến trường.
Các tỉnh ở hậu phương lớn miền Bắc phần lớn đều được giao chỉ tiêu tuyển quân gấp 2 lần những năm trước. Nhưng ngay trong đợt giao quân đầu năm tất cả các tỉnh đều hoàn thành chỉ tiêu giao quân cả năm. Nhiều thanh niên học sinh ở Hà Nội và ở nhiều địa phương khác đã tạm ngừng việc học tập để kịp thời lên đường chiến đấu.
ở Tây Ninh, tất cả thanh niên khối cơ quan, đoàn thể tỉnh, huyện đều tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang. Chỉ trong 20 ngày, từ 4/4 đến 24/4/1975 đã có trên 3000 thanh niên nhập ngũ, biên chế thành 9 tiểu đoàn mới (trong đó có 2 đại đội thanh niên tín đồ Cao Đài). Lực lượng tỉnh lúc này có 12 tiểu đoàn và nhiều đại đội độc lập ở các huyện. ở các xã lực lượng du kích đều có từ trung đội đến các đại đội, đã tự lực giải phóng quê hương.
Tại miền Tây Nam Bộ, khu Đoàn đã huy động 30 cán bộ chủ chốt xuống tăng cường cho thành phố Cần Thơ và các tỉnh Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Long Châu Hà. Các tỉnh đã huy động hàng trăm cán bộ Đoàn, Hội tăng cường xuống các huyện. Hàng trăm cán bộ huyện được tăng cường xuống các xã, phát động thanh niên tòng quân và nổi dậy. Chỉ hơn 10 ngày, toàn khu đã có 8.311 thanh niên tòng quân, 286 thanh niên được bổ sung cho chủ lực khu, 3.570 đoàn viên, thanh niên tham gia bộ đội tỉnh, số còn lại tham gia chủ lực huyện và lực lượng an ninh vũ trang.
ở Mỹ Tho - Gò Công, tổ chức Đoàn, Hội đã khẩn trương phân công hầu hết cán bộ đi về cơ sở chỉ đạo phong trào. Các tổ chức ở cơ sở được kiện toàn và bám trụ tạo điều kiện để các lực lượng cách mạng đứng chân, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng thị xã, thị trấn.
Trên các nẻo đường ra trận, tuổi trẻ đã sống những ngày sôi động. "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng". Quân đi như nước chảy, xe chạy gần như chỉ có một chiều tiến về phía Nam.
Ngày 14/4/1975, tuyến phòng thủ tiền tiêu của địch ở Phan Rang bị tiến công. Suốt hai ngày đêm ròng rã, ta và địch giành nhau từng vị trí, các chiến sĩ trẻ có người chỉ mới vừa tròn một tháng tuổi quân, đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, một mình xông lên tiêu diệt hoả điểm địch, tạo điều kiện cho đồng đội đánh bật địch ra khỏi từng ổ đề kháng.
Cùng ngày 14/4, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây là chiến dịch lịch sử sau 20 năm chống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ, hy sinh.
Sài Gòn - Gia Định là nơi tập trung cơ quan đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, các kho tàng và căn cứ hậu cần quan trọng, trung tâm chính trị kinh tế, là sào huyệt cuối cùng của địch.
Sài Gòn - Gia Định cũng là một thành phố lớn với 3,5 triệu dân, có tuyền thống đấu tranh cách mạng hết sức kiên cường, nơi đã chứng kiến sự tích oanh liệt của những anh hùng trẻ tuổi có sức cổ vũ hàng triệu người đứng lên, như Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi, Quách Thị Trang, Nguyễn Thái Bình...
Trong những ngày tháng 4/1975, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, tuổi trẻ thành phố Sài Gòn - Gia Định tranh thủ từng giờ từng phút tổ chức lực lượng và triển khai kế hoạch chiến đấu, phối hợp chặt chẽ trong và ngoài. Các đơn vị đặc công của mặt trận Sài Gòn, các chiến sĩ biệt động của Thành Đoàn, được bố trí theo thế trận. Ngoài 4 tiểu đoàn được tăng cường ở các quận ngoại thành, ở nội thành có 60 tổ biệt động mới với hơn 300 thanh niên vũ trang ém sẵn ở những vị trí xung yếu.
Thành Đoàn thanh niên thành phố gấp rút tổ chức lực lượng cán bộ, đoàn viên và quần chúng cách mạng ở từng vùng, phụ trách những công việc cần kíp như hướng dẫn quần chúng nổi dậy làm chủ đường phố, chiếm lĩnh các cơ quan quan trọng của địch khi bộ đội chủ lực chưa kịp đến. Tổ chức Đoàn, Hội chia làm 2 bộ phận: Bộ phận phụ trách phong trào công khai và chỉ đạo 5 điểm khởi nghĩa ở nội thành là Bàn Cờ - Vườn Chuối, Gia Định, Phú Nhuận, Tân Phú - Bảy Hiền, Khánh Hội - Vĩnh Hội. Một bộ phận tăng cường cho các quận, huyện, vận động quần chúng tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Thành Đoàn còn tổ chức những trung đội tự vệ có vũ trang, triển khai ở nhiều vị trí then chốt, phân công đoàn viên, thanh niên sẵn sàng hướng dẫn các mũi tiến công của quân giải phóng trên nhiều hướng.
Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ của quân địch ở Xuân Lộc - Long Khánh và những tuyến phòng thủ khác quanh Sài Gòn, từ 5 hướng, 5 quân đoàn chủ lực tinh nhuệ, cùng các lực lượng vũ trang khác mở cuộc tổng công kích vào thành phố. Đến bước đường cùng, kẻ địch càng liều chết chống cự ở nhiều vị trí then chốt trước cửa ngõ Sài Gòn. Nhiều cuộc đấu tăng, đấu pháo đã diễn ra kịch liệt ở Cầu Bông, cầu Bình Triệu, ngã tư Bảy Hiền... khi đoàn BK 17 vượt qua căn cứ địch ở tiểu khu Gia Định, Gò Vấp, cầu Bình Lợi, tiến sát tới cầu Bình Triệu thì gặp ngay đoàn xe tăng gần 100 chiếc của địch tiến về phía cầu. Chúng dàn thành một tuyến dày đặc, hòng phá cầu, cản bước tiến của quân ta. Rất bình tĩnh, các chiến sỹ trẻ đoàn BK 17 theo lệnh chỉ huy chọn phương án táo bạo, áp đảo kẻ thù, xông thẳng vào đội hình xe tăng địch dùng đạn xuyên và B41 bắn gục ngay 3 chiếc xe tăng của chúng.
ở Cầu Bông, địch sử dụng xe tăng M48, M41, M113, tháo chạy từ Đồng Dù, Hóc Môn, Củ Chi về co cụm lại thành từng cụm chiến đấu. Phía trước, chúng cho xe GMC nằm ngang ra giữa đường tạo thành vật cản. Đang đà tiến, Trung đoàn phó Tô Quốc Trịnh, một cán bộ chỉ huy trẻ, mới 28 tuổi đời, không do dự, cùng tiểu đoàn trưởng xe tăng quyết định diệt địch. Các chiến sĩ bộ binh cũng được điều tới, dùng B 40, B 41 diệt từng xe tăng địch. Kẻ địch không chịu nổi đòn tiến công, bỏ cả xe tháo chạy.
Từ ngày 29/4, các mũi tiến công của quân giải phóng đồng loạt tiến vào nội thành, 10 giờ sáng ngày 30/4, đoàn xe 7 chiếc của tiểu đoàn 7, trung đoàn 66, đoàn 304 tiến qua cầu Sài Gòn thẳng hướng về phía Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất), khi tân nội các của Nguỵ quyền Sài Gòn đang chuẩn bị làm lễ ra mắt. Sau khi xe tăng 390 do chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy và trung sĩ Nguyễn Văn Tập lái húc đổ cánh cổng chính rồi tiến thẳng vào trong sân, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận từ xe sau (843) vọt lên nhanh chóng cắm lá cờ cách mạng lên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu giờ cáo chung của chế độ ngụy quyền tay sai Mỹ.
ở những mũi tiến công khác, xe tăng và bộ binh được sự hướng dẫn của các chiến sĩ biệt động và quần chúng nổi dậy, nhanh chóng tiến vào thành phố, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng như Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng Nha cảnh sát... Các mũi tiến công của thanh niên đón đúng thời cơ nhanh chóng tiếp quản một số cơ quan trong thành phố, và trụ sở Tổng hội Sinh viên ở số 4 Duy Tân.
Trong khi đó cuộc chiến đấu ở sân bay Tân Sơn Nhất vẫn diễn ra quyết liệt ngay cả khi Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Với quyết tâm: "Ghìm chúng lại đánh cho đứa ở mặt đất không dám cất cánh, đứa đang bay trên trời phải tan xác", các chiến sĩ trẻ đoàn Trung Dũng từng quét địch ở Cầu Bông, ở ngã tư Bà Quẹo suốt 48 tiếng đồng hồ không kịp ăn cơm, không kịp uống nước, nhiều chiến sĩ bị mất tiếng, nhưng khi được điều đến đánh chiếm sân bay không một ai chịu rời trận địa. Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống ngay trong giờ phút thắng lợi hoàn toàn. Đại đội trưởng Nguyễn Văn, rồi đại đội phó Thọ dẫn tổ mũi nhọn xông lên áp sát hàng rào. Địch ngoan cố chống cự, đạn bắn ra như xối. Lá cờ cách mạng trên tay Quý bị đạn xuyên thủng thêm mấy chỗ. Nhưng 2 tay súng Lang và Hậu đã lọt được vào hàng rào đang xả AK về phía dịch. Lợi dụng lúc bọn chúng đang hoang mang khi nghe tướng Minh tuyên bố đầu hàng, và trong những loạt đạn bắn phá dữ dội của pháo binh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 Nguyễn Khiết Kế dẫn đầu đơn vị xông vào phối hợp với 2 tay súng Lang và Hậu, quét địch ra khỏi những hang ổ cuối cùng.
11 giờ 30 phút, Dinh "Độc Lập" của ngụy quyền Sài Gòn trở thành hợp điểm của các cánh quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, lá cờ cách mạng lộng gió tung bay trên nóc "phủ Tổng thống" ngụy.
Theo dõi từng giây, từng phút cuộc tiến quân lịch sử của quân ta vào giải phóng Sài Gòn, cả Hà Nội, cả đất nước đổ ra đường, đốt pháo, tung hoa vẫy cờ trong khí thế tưng bừng của ngày hội lớn, miệng hát vang bài "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng".
Các thế hệ trẻ nước ta đã đi qua những năm tháng quyết liệt lập nên biết bao kỳ tích anh hùng, thể hiện nổi bật phẩm chất của lớp người có giác ngộ lý tưởng cách mạng sâu sắc, dám chấp nhận gian khổ, ác liệt, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.
Được Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại dày công giáo dục và rèn luyện, thế hệ thanh niên chống Mỹ đã không ngừng nâng mình lên ngang tầm nhiệm vụ lịch sử để dù phải đương đầu với một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh, có nền khoa học kỹ thuật chiến tranh hiện đại vẫn chiến đấu và chiến thắng hết sức oanh liệt, không chỉ bằng lòng dũng cảm hi sinh mà còn bằng cả tài trí thông minh sáng tạo, lao động quên mình vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.
Tạo dựng được cả một thế hệ đầy hào khí, làm nên sự nghiệp vẻ vang là thành quả đáng tự hào và cũng là bài học vô cùng sinh động về công tác giáo dục rèn luyện cũng như tổ chức, động viên, khơi dậy những tiềm năng to lớn của tuổi trẻ đưa vào thực tiễn hành động cách mạng trong những tháng năm đầy thử thách và sống còn của Tổ quốc. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo học thuyết cách mạng của Mác và Lênin để ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vẫn tiếp tục đào luyện nên thế hệ thanh niên đủ năng lực và phẩm chất kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp của Đảng và của dân tộc.
Dưới ngọn cờ của tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại, Đảng ta đã lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phát động liên tục các phong trào quần chúng sâu rộng, có sức sống trong nhiều năm, tiêu biểu là các phong trào "Ba sẵn sàng" và "Năm xung phong", đáp ứng nhiệt huyết của đông đảo thanh niên đang khát khao được cống hiến sức lực và trí tuệ cho nhân dân và cho đất nước.
                                                                                                                             HẾT CHƯƠNG X

 

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
 Mua thiết bị định vị: http://adsun.vn/, thiết bị dạy nghề,Giá hộp đen ô tô tải định vị, tin tức kinh doanh, vai ao dai, tu dong cu, thuê xe du lịch mũi né, Máy chạy bộ điện

Huyện đoàn Vĩnh Linh

TIN MỚI