Chào mừng Đại hội Đoàn cấp cơ sở, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện Vĩnh Linh lần thứ XVI - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, sáng tạo, thi đua lập thân, khởi nghiệp, xung kích, tình nguyện xây dựng quê hương giàu đẹp - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, thi đua rèn đức, học tập, lao động, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ quê hương                     
12:25 ICT Chủ nhật, 26/03/2017

THÀNH VIÊN ĐĂNG NHẬP

LIÊN KẾT WEBSITE

Website NTLS Trường Sơn
Đoàn Dân Chính Đảng
cho thue xe 4 cho

Trang nhất » TIN TỨC » Đoàn TNCS Hồ Chí Minh » Lịch sử Hội LHTN Việt Nam

CHƯƠNG XIII: XUNG KÍCH, SÁNG TẠO ĐI ĐẦU TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI, ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (1986-2004)

Thứ sáu - 17/09/2010 09:48 | Đã xem: 1230

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V và hội nghị cán bộ Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tạo sự chuyển biến trong công tác Hội cùng sự phát triển của phong trào thanh niên
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới sáng tạo, đúng đắn nhằm đưa đất nước không ngừng phát triển, thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đường lối đổi mới của Đảng đã được toàn Đảng, toàn dân tích cực phấn đấu thực hiện trong niềm tin tưởng mạnh mẽ vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc.
Trong không khí phấn khởi đó, tháng 11-1987, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã được tiến hành. Với sự quan tâm, chăm sóc ân cần đối với Đoàn và phong trào thanh niên, đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành TW Đảng Nguyễn Văn Linh đã thay mặt Đảng, Nhà nước đến dự và phát biểu tại Đại hội. Sau khi khẳng định những đóng góp xuất sắc của thanh niên Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Từ Đại hội này sẽ dấy lên một phong trào thanh niên hăng say rèn luyện phẩm chất đạo đức và tác phong, trau dồi lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cao đẹp, bằng hành động cách mạng cụ thể, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra”. Đại hội phấn khởi lắng nghe bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư và coi đó là Chỉ thị quan trọng của Đảng mà Đoàn và tuổi trẻ cả nước phải ra sức thực hiện trong thời gian tới.
Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V đã nhất trí đánh giá: Trong những năm qua, mặc dù đất nước phải trải qua những thử thách gay go, tuổi trẻ Việt Nam luôn là lực lượng to lớn và năng động của xã hội, đã phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp cách mạng. Từ thực tiễn hoạt động trong những năm qua, Đại hội đã rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên, trong đó bài học về phong trào thanh niên được nêu rõ là: Tạo ra những động lực của phong trào hành động cách mạng của thanh niên bằng việc kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa nghĩa vụ và quyền lợi của tuổi trẻ, tạo điều kiện cho thanh niên thực hiện hoài bão và lý tưởng cách mạng.
Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung của công tác Đoàn và phong trào thanh niên từ 1987-1991, trong đó xác định việc mở rộng đoàn kết tập hợp thanh niên là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu. Về phong trào hành động cách mạng của thanh niên, Đại hội nhấn mạnh phải tiếp tục phát triển phong trào “Tuổi trẻ xung kích sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” với bốn chương trình:
1- Tuổi trẻ xung kích và sáng tạo trên mặt trận kinh tế, thực hiện thắng lợi 3 chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
2- Tuổi trẻ đi đầu thực hiện các chính sách xã hội và đấu tranh cho công bằng xã hội.
3- Tuổi trẻ xung kích trên mặt trận quốc phòng – an ninh bảo vệ Tổ quốc.
4- Tuổi trẻ học tập và tiến quân vào khoa học – kỹ thuật.
Quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và những chủ trương, phương hướng công tác của Đoàn Thanh niên trong thời kỳ mới đã tạo điều kiện cho công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều hoạt động phong phú trên nhiều bình diện.
* Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội.
Thực hiện Chỉ thị 11 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn khoá IV, tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam ở các cấp đã được quan tâm củng cố.Vào thời điểm năm 1987, một số nơi Hội phát triển mạnh và đi vào hoạt động có nề nếp như: Kiên Giang, Tây Ninh, An Giang, Biên Hoà (Đồng Nai), Thốt Nốt (Hậu Giang). Các tỉnh, thành ở phía Nam đã tổ chức được 8274 chi hội cơ sở, 638 uỷ ban Hội cấp phường, xã; 95 uỷ ban Hội cấp quận, huyện; 14 uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành với tổng số 1.583.736 hội viên. Tổ chức Hội ở Kiên Giang được củng cố, phát triển và không ngừng phát huy tác dụng, xứng đáng là lá cờ đầu toàn quốc về công tác Hội, được nhiều tỉnh đến học tập và trao đổi kinh nghiệm. Tây Ninh cũng là tỉnh mà các cấp bộ Đoàn trong tỉnh rất quan tâm đến công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên thông qua tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, do đó phong trào hoạt động của Hội phát triển làm xuất hiện nhiều điển hình tốt.
Nhiều tỉnh, thành khác đã tích cực xúc tiến việc thành lập Uỷ ban Hội cấp tỉnh như: Sơn La, Cao Bằng, Gia Lai-Kon Tum, Hà Tây, Hòa Bình Hải Phòng, Hà Nội...
Uỷ ban Trung ương Hội đã tiến hành thử nghiệm một số cơ sở trực thuộc như: Trung tâm âm nhạc, Trung tâm tài nguyên sinh học, Xưởng Video thanh niên, Câu lạc bộ tâm lý, Câu lạc bộ nhiếp ảnh, Câu lạc bộ hôn nhân và gia đình, Câu lạc bộ võ thuật, Câu lạc bộ quần vợt... ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thu hút nhiều người tham gia.
Tuy vậy, trong thời gian triển khai hoạt động và phát triển tổ chức của Hội vẫn còn gặp nhiều khó khó khăn.
Trước thực tế trên, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với tư cách là tổ chức nòng cốt chính trị của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã có chủ trương và biện pháp chỉ đạo kịp thời trong việc củng cố tổ chức và hoạt động của Hội. Ngày 28 tháng 9 năm 1988, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (Khoá V) đã họp và ra Nghị quyết chuyên đề số 04/NQ-TWĐTN về công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong tình hình mới. Nghị quyết xác định: “Xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam thực sự trở thành tổ chức cách mạng rộng rãi của thanh niên, sinh viên cả nước là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đổi mới công tác đoàn kết tập hợp thanh niên”.
Nghị quyết 04/NQ-TWĐTN của Ban Thường vụ TW Đoàn đã đề ra 8 vấn đề cơ bản để quán triệt trong các cấp bộ Đoàn cả nước nhằm xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và các tổ chức thành viên của Hội vững mạnh. Đó là:
- Xác định Hội là tổ chức cách mạng tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên phấn đấu cho sự giàu mạnh của Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì hạnh phúc và tiến bộ của tuổi trẻ.
- Hội qui tụ vào tổ chức mình mọi tổ chức thanh niên và nam nữ thanh niên, không phân biệt thành phần, nguồn gốc, quá khứ, tôn giáo, dân tộc... với điều kiện họ tán thành điều lệ Hội, tự nguyện vào Hội để được hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu chính đáng của cá nhân và tập thể, để được cống hiến và trưởng thành.
- Xác định 3 tính chất cơ bản của Hội là:
Tính xã hội – chính trị; tính liên hiệp; tính quần chúng rộng rãi.
- Xác định Hội có 2 chức năng cơ bản là:
Chăm lo lợi ích chính đáng của hội viên.
Giác ngộ, hướng dẫn hội viên trở thành những người thanh niên mới, có đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Xác định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội là: Tự nguyện; tự quản; dân chủ bàn bạc; hợp tác và thống nhất hành động; Đoàn là hạt nhân chính trị, là người tổ chức và hướng dẫn Hội hoạt động.
- Về mối quan hệ giữa Đoàn và Hội: Nghị quyết lưu ý các cấp bộ Đoàn cần tránh khuynh hướng thả nổi, không chỉ đạo công tác Hội, đồng thời cũng cần tránh khuynh hướng chỉ đạo theo kiểu “cầm tay chỉ việc” làm mất tính chủ động, sáng tạo và nguyên tắc hoạt động tự quản của Hội.
Nghị quyết xác định mối quan hệ giữa Đoàn và Hội được thể hiện qua 4 con đường chủ yếu sau:
Đoàn định hướng về chính trị – tư tưởng cho hoạt động Hội, các cấp bộ Đoàn trực tiếp giúp thanh niên lập ra tổ chức Hội ở cấp mình; trong từng thời kì bàn chuyên đề về công tác Hội; thực hiện nề nếp làm việc thường kỳ giữa Ban Thường vụ Đoàn và Ban Thư ký Hội.
Đoàn thường xuyên kiểm tra các hoạt động của Hội, đồng thời Đoàn cũng định kỳ thông báo cho Hội về các hoạt động của mình.
Đoàn giới thiệu với Hội những cán bộ, đoàn viên tốt được thanh niên tín nhiệm tham gia lãnh đạo Hội và làm hạt nhân trong Hội.
Đoàn tạo điều kiện giúp đỡ Hội về mọi mặt, tôn trọng và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Hội để Hội thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.
- Về hệ thống tổ chức Hội, Nghị quyết xác định: Từ những tính chất cơ bản của Hội, hệ thống tổ chức Hội phải rất đa dạng, năng động, không gò ép, xơ cứng, hình thức. Sức mạnh của Hội thể hiện ở sự hoạt động của các tổ chức thành viên và các chi hội, nhất là ở cơ sở. Do đó, uỷ ban Hội cấp huyện, tỉnh thành lập theo nhu cầu của thực tiễn và đòi hỏi của phong trào. Không tổ chức ra Uỷ ban Hội một cách hình thức khi chưa có nhu cầu đối với cấp dưới. Uỷ ban Trung ương Hội có tầm quan trọng cả đối nội lẫn đối ngoại, do đó cần được kiện toàn theo hướng gọn nhẹ để hoạt động có hiệu quả và thiết thực.
Về chỉ đạo: Đoàn cấp nào chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn Hội cấp đó, trong hệ thống tổ chức Hội; Uỷ ban Hội cấp trên hướng dẫn nghiệp vụ cho Uỷ ban Hội cấp dưới, đôn đốc các Uỷ ban Hội, các tổ chức thành viên thực hiện những chủ trương, chương trình hoạt động chung mà Hội đã dân chủ bàn bạc và thống nhất đề ra.
- Về các loại hình chi hội thanh niên và nội dung hoạt động chủ yếu của các chi hội cơ sở.
Nghị quyết 04 xác định có 4 loại hình chi hội thanh niên phổ biến: Chi hội theo nghề nghiệp; chi hội theo sở thích; chi hội theo đối tượng và chi hội theo địa bàn sinh hoạt.
Về nội dung và phương thức hoạt động Hội, Nghị quyết đề ra: Cần tiếp tục tổng kết, nâng cao và cụ thể hoá mô hình 4 mặt: Tổ ấm, câu lạc bộ, nơi cống hiến, trưởng thành. Nội dung hoạt động cơ bản của chi hội ở cơ sở xoay quanh vấn đề: Thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của thanh niên. Hướng hoạt động chung của Hội ở cơ sở là:
Hoạt động văn hoá xã hội: Câu lạc bộ khoa học kĩ thuật trẻ, câu lạc bộ hôn nhân gia đình, câu lạc bộ văn hoá, các lớp học bổ túc văn hoá, các lớp dạy nghề, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, tham quan, du lịch, các hình thức tham gia hoạt động xã hội: Cứu trợ, y tế, chăm sóc người già, trẻ em.
Hoạt động kinh tế, các cấp bộ Hội vận động thanh niên thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng với nhiều hình thức khác nhau.
Hoạt động chính trị, hướng dẫn thanh niên tìm hiểu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thời sự chính trị... Thông qua đó giúp cho tuổi trẻ tự xác định trách nhiệm của mình đối với tương lai đất nước.
Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (khoá V) cũng đã đề ra một số nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện đối với công tác tập hợp đoàn kết thanh niên, xây dựng Hội LHTN Việt Nam và các tổ chức thành viên của Hội, đó là:
1- Mỗi cấp bộ Đoàn, mỗi cán bộ đoàn viên đều phải làm nhiệm vụ tập hợp thanh niên và giúp đỡ Hội xây dựng và phát triển tổ chức.
2- Về tổ chức: Chuyển ban Mặt trận Thanh niên các cấp thành thường trực Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam ở những nơi đã có Uỷ ban Hội. Những nơi chưa có Uỷ ban Hội, Tỉnh Đoàn cử ra một số cán bộ chuyên tránh do đồng chí Phó Bí thư hoặc Uỷ viên Thường trực phụ trách để giúp Ban Chấp hành vận động thành lập Hội. Các quận, huyện cử ít nhất 1 cán bộ chuyên trách công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội.
Các ban, đơn vị Trung ương Đoàn thực hiện công tác tập hợp đoàn kết thanh niên và xây đựng Hội theo chức năng, nhiệm vụ và đối tượng Ban, đơn vị phụ trách.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn tháng 9-1988, Hội nghị Uỷ Ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam họp tại Hà Nội đã tiến hành kiện toàn. Uỷ ban Trung ương Hội: Đồng chí Hà Quang Dự Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (khoá V) được cử làm Chủ tịch Uỷ ban TW Hội và đồng chí Phạm Phương Thảo Bí thư BCH TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được cử làm Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Hội.
* Sự phát triển của tổ chức Hội LHTN Việt Nam sau Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ TW Đoàn:
Sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V và Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về công tác tập hợp đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội LHTN Việt Nam trong tình hình mới đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức trong các cấp bộ Đoàn. Nhiều cấp bộ Đoàn thấy rõ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chỉ có thể phát huy tác dụng giúp Đảng và Nhà nước tập hợp đông đảo thanh niên thực hiện công cuộc đổi mới đất nước khi xây dựng được mặt trận thanh niên thống nhất do Đoàn làm hạt nhân nòng cốt. Yêu cầu đổi mới công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và Hội LHTN Việt Nam trở thành vấn đề cấp bách của phong trào thanh niên trong tình hình mới.
Quan điểm của Hội LHTN Việt Nam và nhiều cấp bộ Đoàn có bước phát triển mới trên các mặt sau:
Trong nhận thức, thấy rõ Hội LHTN Việt Nam là mặt trận đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm hạt nhân chính trị.
Trong hoạt động thực tiễn, nhiều cấp bộ Đoàn đã chủ động xây dựng Hội, giúp Hội không chỉ qui tụ thanh niên chưa có điều kiện vào Đoàn mà còn qui tụ nhiều cán bộ, đoàn viên hết tuổi Đoàn, những cán bộ khoa học, những văn nghệ sỹ trẻ, những người tâm huyết với thanh niên tham gia hoạt động của các chi hội, làm cho hoạt động của Hội đa dạng hơn.
Trong chỉ đạo, nhiều cấp bộ Đoàn đã phát huy được vai trò của Hội trong tổ chức các hoạt động đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của thanh niên, đồng thời góp phần tăng cường hoạt động đối ngoại của thanh niên ta với thanh niên các nước trong khu vực và trên thế giới.
Về mặt tổ chức của Hội LHTN Việt Nam có bước phát triển, Uỷ ban Hội từ Trung ương đến cơ sở được kiện toàn theo hướng gọn nhẹ, thiết thực. Tính đến hết năm 1989 toàn quốc có 27 Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành phố, 70 Uỷ ban Hội cấp quận, huyện và trên 10.000 chi hội cơ sở.
Nét đổi mới trong công tác xây dựng tổ chức Hội là hình thức tổ chức chi hội theo sở thích (gắn với các nhóm đã có của thanh niên), chi hội theo nghề nghiệp (gắn với quyền lợi cơ bản của thanh niên) đang phát triển ở nhiều địa phương phù hợp với yêu cầu đổi mới hoạt động của Hội.
Nhiều cấp bộ Hội đã tổ chức các chi hội trực thuộc, chi hội trực thuộc không những tư vấn cho cán bộ Hội mà còn là nơi tập hợp thanh niên, tạo điều kiện cho các cấp bộ Hội tiếp cận trực tiếp với thanh niên không qua cấp trung gian. Hầu hết cán bộ các chi hội trực thuộc các cấp là cán bộ Đoàn cũ, đảng viên hoặc nhà khoa học trẻ, những người hoạt động xã hội tích cực.
Việc bồi dưỡng những hiểu biết về công tác tập hợp đoàn kết thanh niên và Hội LHTN cho số cán bộ làm chuyên trách công tác Hội và đội ngũ cán bộ Hội nói chung đã được các cấp bộ Đoàn, Hội quan tâm đúng mức. Trong hai năm 1988-1989, Trung ương Đoàn và Uỷ ban Trung ương Hội đã mở được 5 lớp bồi dưỡng cho 360 cán bộ các tỉnh, thành Hội. Những tỉnh như: Sông Bé, Đồng Nai, Thừa Thiên-Huế, Kiên Giang, An Giang, Tây Ninh, Bến Tre, Khánh Hoà, Phú Yên, Hà Nội... đã có nhiều cố gắng trong công tác bồi dưỡng cán bộ Hội.
* Xây dựng và phát triển tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam.
Trong những năm từ 1986 đến 1990, tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam quan tâm xây dựng. Ngày 19-3-1987, Hội đồng Bộ trưởng đã phê chuẩn bàn Điều lệ Hội Sinh viên Việt Nam do Hội nghị đại biểu tháng 7-1985 của Hội thông qua. Điều lệ ghi rõ: “Hội Sinh viên Việt Nam là tổ chức xã hội của giới sinh viên Việt Nam. Hội viên của Hội là những sinh viên Việt Nam đang học tại trường đại học và cao đẳng trong và ngoài nước. Hội đoàn kết, tổ chức và động viên toàn thể sinh viên Việt Nam phát huy truyền thống cách mạng và quyền làm chủ tập thể Xã hội chủ nghĩa của sinh viên trong học tập, rèn luyện, xây dựng và quản lí trường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.”(Điều II). Tiếp theo đó là Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi các cấp nêu rõ những nội dung chủ yếu trong việc giúp đỡ tạo điều kiện cho Hội Sinh viên hoạt động và phát triển đã nói lên mối quan tâm sâu sắc của Nhà nước ta đối với phong trào sinh viên và công tác Hội Sinh viên.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có sự quan tâm trực tiếp đến công tác xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy của Hội Sinh viên, do vậy tổ chức Hội không ngừng phát triển. Đầu năm 1985, chỉ mới thí điểm tổ chức ở hai trường, nhưng đến tháng 9-1986 đã có 25 trường và đến đầu năm 1988 đã có 39/93 trường đại học và cao đẳng có tổ chức Hội với tổng số 45.000 hội viên. Các tỉnh, thành phố có nhiều trường đại học và cao đẳng bước đầu đã có Ban Chấp hành lâm thời Hội Sinh viên cấp tỉnh. Riêng thành phố Hà Nội, đầu năm 1988 đã có 14/32 trường đại học, cao đẳng tổ chức Đại hội và bầu cử BCH Hội Sinh viên.
Ngày 17-11-1988, Đại hội lần thứ I Hội Sinh viên thành phố Hà Nội họp bầu ra BCH, đây là BCH cấp tỉnh đầu tiên của Hội kể từ khi Hội Sinh viên được tổ chức lại.
Năm 1988, khi đồng chí Vũ Quốc Hùng, Chủ tịch BCH Hội Sinh viên chuyển công tác, đồng chí Hồ Đức Việt – Bí thư Thường trực TW Đoàn được cử làm Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam.
Kết quả lớn nhất của công tác củng cố xây dựng tổ chức Hội LHTN Việt Nam trong thời gian nêu trên là đã từng bước phát triển tổ chức Hội về mặt số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động đưa công tác Hội dần ổn định và trở nên thực chất hơn, khôi phục dần uy tín và ảnh hưởng của Hội trong thanh niên và trong xã hội.
* Nhiều loại hình chi hội được hình thành ở cơ sở:
Bước vào năm 1990, công tác xây dựng Hội có sự chuyển biến rõ rệt, ở các tỉnh phía Bắc, nhiều nơi đã bắt tay vào xây dựng tổ chức Hội; Hà Nội có 40 chi hội hoạt động tốt, Hải Phòng phát triển nhiều hội viên mới, Sơn La có 600 hội viên người dân tộc tham gia sinh hoạt Hội; Vĩnh Phú, Bắc Thái (Bắc Cạn, Thái Nguyên), Hà Sơn Bình (Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình) thí điểm xây dựng Hội.
Các chi hội hình thành ở các địa phương chủ yếu theo nghề nghiệp gắn với lợi ích cơ bản của hội viên như chi hội y, bác sĩ trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh, các chi hội khuyến nông ở An Giang, Kiên Giang, Tây Ninh, chi hội những người trồng cà phê, hồ tiêu, làm đồ sứ ở Đồng Nai, Sông Bé, Lâm Đồng; chi hội đan mây, tre, lá ở Tiền Giang, Cửu Long, Thuận Hải.
Loại hình chi hội theo sở thích tạo được sự hứng thú trong thanh niên như chi hội tâm lí trẻ với hơn 300 hội viên sinh hoạt theo các chuyên đề: Tình bạn, tình yêu, cách ứng xử đẹp... Chi hội điện ảnh tập hợp được các diễn viên, đạo diễn, hoạ sĩ trẻ, những người yêu thích dân tộc học cùng các câu lạc bộ kĩ năng, câu lạc bộ sáng tác trẻ, ca nhạc, nhiếp ảnh, chơi tem... tạo được chất keo để thanh niên đến với tổ chức Hội một cách tự nguyện.
Nguyên nhân chủ yếu góp phần củng cố và phát triển tổ chức Hội trong thời gian qua là các cấp bộ Đảng, chính quyền và Đoàn Thanh niên đã khẳng định tầm quan trọng trong công tác tập hợp thanh niên theo tinh thần Nghị quyết 8B của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI. Một số nơi Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về giải quyết lương cho cán bộ thanh niên ở xã, phường và kinh phí dành cho công tác thanh niên như Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum... Nhiều tỉnh, thành thực hiện Chỉ thị 10 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về việc tăng cường cán bộ Hội chuyên trách và cơ sở vật chất cho công tác Hội, đồng thời chỉ ra đặc điểm những mô hình tập hợp thanh niên.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Hội cũng còn nhiều hạn chế:
Cán bộ Hội thiếu cả về số lượng và yếu về chất lượng, nhất là khả năng kiên kết các lực lượng cùng lo cho công tác thanh niên. Các thành viên Ban Thư ký TW Hội do phải kiêm nhiệm nhiều công tác nên ít sát phong trào, chưa có điều kiện chỉ đạo công tác của Hội. ở một số tỉnh, Uỷ ban Hội không sinh hoạt định kì nên khó phát huy năng lực của tập thể Uỷ ban Hội và của từng thành viên.
Thông tin giữa Trung ương Hội với Uỷ ban Hội ở các địa phương và cơ sở không thường xuyên, lại thiếu chỉ đạo tập trung và kịp thời, chưa làm tốt việc nhân điển hình tiên tiến và gương mặt cán bộ Hội ở cơ sở, chậm cung cấp tài liệu tập huấn cán bộ Hội theo yêu cầu của địa phương, cơ sở.
Nguyên nhân của những hạn chế nói trên là do:
Đội ngũ cán bộ chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, khả năng tham mưu với Hội và liên kết các ngành, các lực lượng còn hạn chế.
Nhiều cán bộ Đoàn chưa quán triệt đầy đủ và thực hiện tốt Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (khoá V) về công tác tập hợp thanh niên. Nhiều nơi khoán trắng cho Hội hoặc chưa đồng cảm với Hội.
Còn có địa phương, đơn vị chưa quan tâm tạo điều kiện cho Đoàn, Hội làm tốt công tác tập hợp thanh niên trong tình hình mới.
*
* *
Để kịp thời củng cố phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội LHTN Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tập hợp thanh niên trong tình hình mới. Hội nghị cán bộ Hội LHTN Việt Nam đã tổ chức từ ngày 28-30 tháng 12-1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tham dự hội nghị có 235 đại biểu ở các tỉnh, thành, các trung tâm và chi hội trực thuộc, các đồng chí thành viên Ban Thư kí và Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Hội.
Hội nghị được đón tiếp đồng chí Võ Trần Chí, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí đại diện các ban, ngành của Đảng và Nhà nước ở Trung ương. Dự Hội nghị còn có đồng chí Lê Quang Vịnh, nguyên Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam; Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh do đồng chí Nguyễn Duy Hùng, Bí thư Trung ương Đoàn làm trưởng đoàn; Đoàn đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam do đồng chí Trần Mai Hương, Tổng Thư kí Hội sinh viên làm trưởng đoàn; và nhiều Bí thư các Tỉnh, Thành Đoàn.
Sau hơn 2 ngày làm việc dưới sự chủ trì của đồng chí Hà Quang Dự, Chủ tịch Hội và đồng chí Phạm Phương Thảo, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Hội, Hội nghị đã đạt được những kết quả tốt đẹp và thông qua các văn kiện:
Báo cáo tổng kết đánh giá công tác Hội năm 1990.
Chương trình hành động của Hội năm 1991.
Điều lệ (sửa đổi) Hội LHTN Việt Nam.
Quyết định nhân sự kiện toàn Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.
Với tinh thần trách nhiệm và dân chủ, Hội nghị đã thảo luận sâu việc sửa đổi Điều lệ Hội và nhân sự để kiện toàn một bước Uỷ ban Trung ương Hội. Trong việc sửa đổi Điều lệ, nhiều đại biểu đã đóng góp ý kiến rất cụ thể cho từng điều, từng chương và những điểm sẽ bổ sung trong việc hướng dẫn thực hiện điều lệ Hội như: Nghi thức Hội và lịch sử Hội. Trong kiện toàn tổ chức, Hội nghị đã thảo luận và thông qua danh sách chính thức của Uỷ ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam gồm 37 đồng chí, trong đó có 12 đồng chí chuyên trách ở Trung ương, 6 đồng chí thuộc các đơn vị trực thuộc, 3 đồng chí ở các ngành, 16 đồng chí ở các tỉnh, thành. Ngày 30-12-1990, Uỷ ban Trung ương Hội đã họp và bầu ra Ban thư kí gồm 10 đồng chí. Các đồng chí Nguyễn Đắc Hương, Nguyễn Thị Kỳ được bầu làm Phó Tổng Thư kí Hội.Uỷ ban Trung ương Hội thảo luận và quyết định hình thành 4 tiểu ban và 5 vùng chỉ đạo. Các thành viên Uỷ ban TW Hội được phân công tham gia các tiểu ban và các vùng.
Với khẩu hiệu hành động của Hội năm 1991: “Vì sự giàu mạnh của đất nước, vì hạnh phúc của tuổi trẻ” Hội nghị đã thảo luận 4 chương trình hành động như:
1- Tham gia phát triển kinh tế thông qua nghiên cứu ứng dụng tiến bộ sinh học, khoa học kỹ thuật và tin học.
2- Đẩy mạnh hoạt động xã hội và bảo trợ tài năng trẻ;
3- Bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc.
4- Xây dựng Hội theo hướng thiết thực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu chính đáng của thanh niên.
Theo phương hướng đó Uỷ ban TW Hội đã thông qua kế hoạch cụ thể về chương trình hoạt động của Hội năm 1991.
Sau Hội nghị cán bộ Hội LHTN Việt Nam tháng 12-1990, công tác xây dựng tổ chức Hội đã có bước tiến mới ở nhiều địa phương, tổ chức Hội phát triển được cả về số lượng và chất lượng như: TP. Hồ Chí Minh, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Minh Hải, Hà Nội, Đắc Lắc... các tổ chức cơ sở Hội được gia tăng. Tính đến cuối năm 1991 có gần 6.000 chi hội, câu lạc bộ, đội nhóm và trung tâm phát huy được tác dụng. Hình thức tập hợp thanh niên chủ yếu phát triển hướng về các loại hình chi hội theo nghề nghiệp, chi hội theo sở thích gắn với nhu cầu, lợi ích thiết thân của thanh niên. Công tác tập hợp thanh niên ở các vùng tôn giáo và dân tộc được chú ý hơn, một số vùng trọng điểm dân tộc, tôn giáo như Sơn La, Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình), An Giang, Kiên Giang... cán bộ Đoàn, Hội đã tăng cường quan hệ với thanh niên và xây dựng mối quan hệ với các già làng trưởng bản hoặc các chức sắc trong dân tộc và tôn giáo để tác động đến thanh niên.
Đội ngũ cán bộ Hội đã bắt đầu được củng cố và có tác động tốt đến các hoạt động Hội ở cơ sở. Uỷ ban Hội các cấp được củng cố, kiện toàn. Theo thống kê năm 1991, cả nước có 28 Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành phố, 129 Uỷ ban Hội cấp huyện, quận, 786 Uỷ ban Hội cấp phường, xã. Một số tỉnh, thành chưa thành lập Uỷ ban Hội cấp tỉnh, huyện nhưng ở cơ sở đã hình thành các chi hội, đội, nhóm do cán bộ Đoàn đứng ra tổ chức, tập hợp.
Do xác định được vấn đề tăng cường xây dựng Hội ở cơ sở là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, thời gian qua nhiều tỉnh, thành phố như Kiên Giang, An Giang, Long An, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã chú trọng cử cán bộ xuống các cơ sở, chọn điểm làm thử. Những cơ sở yếu kém được quan tâm nhiều hơn trong việc hướng dẫn tổ chức những hoạt động cụ thể nhằm tập hợp thanh niên. Các tỉnh Thuận Hải, Đắc Lắc, An Giang, Sơn La chú ý nhiều hơn đến công tác tập hợp và vận động thanh niên các dân tộc Gia Lai – Kon Tum chỉ đạo phát triển “Làng thanh niên”- một mô hình hoạt động toàn diện. “Làng thanh niên” được xây dựng trên cơ sở địa bàn dân cư nhằm thu hút, tập hợp thanh niên tham gia làm lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng “Làng thanh niên” được chính quyền các cấp, các già làng và bà con các dân tộc tỉnh ủng hộ, được thanh, thiếu nhi hưởng ứng một cách tự nguyện. “Làng thanh niên” là một mô hình phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống của thanh thiếu niên miền núi nên ngày càng được nhân rộng ra các địa phương trong cả nước.
Các tỉnh Thừa Thiên – Huế, Lâm Đồng, Kiên Giang, mở hội thảo về tập hợp thanh niên trên địa bàn tôn giáo, thông qua đó thể nghiệm những kỹ năng, phương pháp công tác tập hợp thanh niên.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được các cấp bộ Hội chủ động quan tâm hơn, nhiều lớp tập huấn mở ở các tỉnh, thành và huyện thị, trong năm 1991 với hơn 5000 cán bộ Hội tham dự. Nội dung các lớp tập trung vào chuyên đề về công tác tổ chức, xây dựng Hội; Hội tham gia xây dựng Đoàn; các kỹ năng phương pháp tổ chức những hoạt động cụ thể để tập hợp thanh niên. Đội với các chi hội trưởng, đội, nhóm trưởng, nội dung tập huấn chủ yếu là công tác của người đội trưởng, nhóm trưởng: Kỹ năng tâm lí tiếp cận thanh niên, kỹ năng sinh hoạt tập thể cộng đồng. Các tỉnh: Hậu Giang, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Thuận Hải, thành phố Hồ Chí Minh... là những địa phương làm tốt công tác tập huấn cán bộ Hội.
Nhiều tổ chức Hội LHTN Việt Nam ở các địa phương nhất là các tỉnh phía Nam được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký TW Hội Phạm Phương Thảo, sau Hội nghị cán bộ Hội toàn quốc tháng 12-1990, đã có những hoạt động lớn để củng cố kiện toàn tổ chức: An Giang tổ chức cuộc họp mặt thanh niên tiên tiến và Hội nghị cán bộ Hội toàn tỉnh với 250 đại biểu tham dự để kiện toàn tổ chức và phát triển hoạt động. Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành Hội nghị đại biểu Hội LHTN thành phố lần thứ I. Kiên Giang tiến hành Đại hội đại biểu Hội LHTN tỉnh lần thứ V có 150 đại biểu tham dự, đồng thời chỉ đạo các huyện, thị tổ chức Hội nghị đại biểu nhằm kiện toàn và nâng cao chất lượng của tổ chức Hội. Đặc biệt Uỷ ban Hội LHTN thành phố Hà Nội sau một thời gian chuẩn bị và xây dựng phong trào ở cơ sở, đã chính thức ra mắt và đi vào hoạt động. Sự ra đời của Uỷ ban Hội LHTN thành phố Hà Nội có thể được coi là một sự kiện có nhiều ý nghĩa đối với công tác phát triển Hội của cả nước nói chung và ở các tỉnh phía Bắc nói riêng.
Những nguyên nhân tạo nên sự chuyển biến vững chắc của công tác xây dựng phát triển tổ chức Hội trong năm 1990 trước hết phải kể đến là sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của các cấp bộ Đoàn dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng.
Trên cơ sở quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH Trung ương Đảng (Khoá VI) về công tác quần chúng, Nghị quyết BCH TW Đoàn lần thứ 4 (khoá V) về công tác quần chúng và Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ TW Đoàn, ngày 2-5-1990, Ban Bí thư TW Đoàn đã chỉ thị số 01 về tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng Hội LHTN Việt Nam, nội dung chỉ thị yêu cầu:
1- Ban Thường vụ các tỉnh, thành Đoàn cần lựa chọn những cán bộ có năng lực, nhiệt tình tăng cường cho công tác Hội ở các cấp: Cấp tỉnh, thành phố từ 4-5 cán bộ; cấp huyện, quận từ 2 đến 3 cán bộ. Ngoài số cán bộ ăn lương của Đoàn, nơi nào có điều kiện có thể hợp đồng thêm cán bộ do Hội trả lương. Việc tăng cường cán bộ cho Hội là cần thiết và cấp bách song phải thảo luận với thường trực Hội, tránh tình trạng áp đặt thiếu dân chủ.
2- Nơi nào Hội chưa tự túc được kinh phí Đoàn cần cấp cho Hội một khoản kinh phí tương ứng với nhiệm vụ của Hội. Tạo điều kiện cho Hội sự chủ động cần thiết phục vụ phong trào. Nơi nào Hội có hoạt động kinh tế, dịch vụ có nguồn thu thì để Hội quản lí và quyết định chi tiêu theo chế độ chung. Những nơi Hội chưa có hoạt động kinh tế, Đoàn có trách nhiệm giúp Hội tổ chức các loại hình hoạt động để vừa giải quyết việc làm cho thanh niên, vừa có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động.
3- Cố gắng bố trí cho Hội có trụ sở riêng hoặc gắn với trung tâm hoạt động như Câu lạc bộ, Nhà văn hoá, Trung tâm khoa học kĩ thuật, Trung tâm du lịch... để Hội có điều kiện qui tụ các hoạt động xã hội, tiếp cận với các đối tượng thanh niên. Nơi nào Đoàn không bố trí được thì báo cáo với Đảng và chính quyền giúp đỡ Hội.
4- Công tác đoàn kết tập hợp thanh niên và xây dựng Hội LHTN phải được coi là một trong những nội dung công tác quan trọng của các cấp bộ Đoàn. Thường vụ các tỉnh, Thành Đoàn phải họp liên tịch với thường trực Hội để xây dựng các chỉ tiêu phát triển Hội (kiện toàn Uỷ ban Hội các cấp, phát triển hội viên và các chi hội ở cơ sở).
Toàn bộ các chủ trương về công tác Hội ở địa phương Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn cần lãnh đạo chặt chẽ và báo cáo chi tiết các kế hoạch công tác Hội cho Thường trực cấp Uỷ biết để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên.
Từ năm 1989 Trung ương Đoàn đã tăng cường 6 cán bộ cho Ban Công tác Mặt trận Thanh niên. Các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Quảng Nam - Đà Nẵng có từ 5 đến 7 cán bộ chuyên trách công tác đoàn kết tập hợp thanh niên, Hà Nội đã cử 2 cán bộ chuyên lo về công tác này. Hầu hết các tỉnh phía Nam có từ 2 đến 3 cán bộ chuyên trách công tác Hội. Một số tỉnh, Thành Đoàn còn tạo điều kiện cho Hội có trụ sở, có các hoạt động sản xuất, dịch vụ tạo nguồn thu tự túc kinh phí cho hoạt động như Quảng Nam - Đà Nẵng, Kiên Giang, An Giang, Thuận Hải, Khánh Hoà...
Bước vào năm 1991, trong tình hình đất nước tiến hành đổi mới toàn diện, nhân dân ta đang vượt qua những khó khăn to lớn nhằm xây dựng chế độ mới cuộc sống mới. Cục diện chính trị chuyển biến phức tạp tác động mạnh vào nước ta. Các thế lực thù địch đang âm mưu “diễn biến hoà bình”, lôi kéo, chia rẽ và làm hư hỏng thanh niên ta. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã ra Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 9-2-1991 về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên. Nghị quyết đã đề ra những quan điểm cơ bản về công tác thanh niên của Đảng trong thời kỳ mới. Đó là:
1- Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ra sức bồi dưỡng, phát huy tiềm năng và vai trò chủ động của thanh niên trên mọi lĩnh vực của công cuộc đổi mới, coi đó là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược con người.
Xây dựng môi trường xã hội thuận lợi để thanh niên phát triển nhân cách và cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc.
2- Đoàn kết và tập hợp mọi tầng lớp thanh niên vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì lợi ích thiết thực của mọi tầng lớp thanh niên theo con đường XHCN, dân chủ và công bằng xã hội, vì cuộc sống văn minh và hạnh phúc của tuổi trẻ. Các hình thức tổ chức tập họp thanh niên phải đa dạng theo nghề nghiệp, sở thích và theo các nhu cầu chính đáng khác của thanh niên.
Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh làm hạt nhân nòng cốt của mặt trận đoàn kết, tập họp thanh niên và phong trào thanh niên, xây dựng lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc và của Đảng.
3- Phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị của đất nước, phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác thanh niên. Tổ chức phong trào hành động cách mạng của thanh niên đi đôi với việc Nhà nước xâydựng và thực hiện các chính sách bảo đảm các quyền lợi và nghĩa vụ của tuổi trẻ.
Chăm sóc, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, thiếu niên là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền và của toàn xã hội.
Nghị quyết 25 của Bộ Chính trị đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội LHTN Việt Nam. Cùng với việc thực hiện xây dựng chương trình công tác và Điều lệ Hội LHTN Việt Nam mới được thông qua tháng 12-1990, công tác xây dựng và phát triển tổ chức Hội có sự chuyển biến rõ nét, Uỷ ban Hội các cấp tiếp tục được xây dựng, củng cố và kiện toàn. Nhiều địa phương như: Minh Hải, Đồng Nai, Đắc Lắc, Phú Yên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, Hà Nội, Sơn La, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Cai... đã xây dựng, củng cố và cho ra mắt Uỷ ban Hội các cấp. Một số tỉnh như Đồng Nai, Sông Bé, An Giang, Hậu Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Hải Phòng, Sơn La, Minh Hải... Đã chú ý phát triển các loại hình chi hội như: Chi hội những người sản xuất kinh doanh giỏi, Chi hội những nhà doanh nghiệp trẻ v.v... thu hút được đông đảo thanh niên tham gia.
Năm 1992 là năm diễn ra nhiều diễn biến đầy thử thách trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Nhưng toàn Đảng, toàn dân ta đã quyết tâm phấn đấu và đã giành được những thành tựu quan trọng mở ra triển vọng mới cho sự phát triển cả về kinh tế xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước.
Tháng 10-1992, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI tại Thủ đô Hà Nội đã tổng kết toàn bộ phong trào thanh niên và công tác Đoàn, đề ra chương trình, phương hướng công tác Đoàn và phong trào thanh niên cho nhiệm kì 5 năm tới.
Công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội LHTN Việt Nam tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng đã thu hút được những kết quả đáng kể trên cơ sở 3 chương trình hành động được các cấp bộ Hội đánh giá là đúng, trúng, ngắn gọn, thiết thực.
Tổ chức Hội tiếp tục phát triển, năm 1992 và đầu năm 1993, Uỷ ban Trung ương Hội đã ra quyết định công nhận Uỷ ban Hội của 3 tỉnh: Hải Hưng (nay là Hải Dương, Hưng Yên), Hà Tĩnh và Quảng Bình, đưa số lượng Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành lên 34/53. Một số tỉnh phía Bắc đã thành lập Ban Vận động thành lập Hội như: Thanh Hoá, Thái Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Nghệ An.
Theo số liệu thống kê của 23 tỉnh, thành đến đầu tháng 2-1993 ở các địa phương đã có:
127 Uỷ ban Hội cấp huyện, quận.
850 Uỷ ban Hội cấp phường, xã.
159 Câu lạc bộ, đội, nhóm, chi hội trực thuộc tỉnh.
5944 chi hội, đội, nhóm cơ sở.
658.700 hội viên đã được tập hợp tăng gấp hai lần năm1991, bao gồm: Hội viên chính thức, hội viên thường xuyên, hội viên không thường xuyên.
49 cán bộ Hội chuyên trách cấp tỉnh, thành phố.
132 cán bộ Hội chuyên trách cấp huyện, quận.
So với năm 1991, số lượng Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành phố và huyện, quận, cơ sở, số lượng chi hội, đội, nhóm và số lượng hội viên đều tăng. Tổ chức Hội ở phía Nam được củng cố, ở phía Bắc được mở rộng, khẳng định sự phát triển đúng hướng của Hội LHTN Việt Nam trong tình hình mới.
Về mặt hoạt động, việc tìm tòi các hình thức thích hợp của tổ chức Hội ở các địa phương có tác dụng là “Uống nước nhớ nguồn”, “Bác Hồ với tuổi trẻ”, “Ngôi sao chiến sĩ”... thông qua các loại hình văn hoá có sức hấp dẫn, đặc biệt các hoạt động xã hội đã thu hút bạn trẻ nhiều nhất. Nội dung hoạt động xã hội hướng vào việc giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ khó khăn, neo đơn, chăm sóc nghĩa trang, xây nhà tình nghĩa, giúp đỡ thiếu nhi, hình thành các quỹ bảo trợ “Vì ngày mai” v.v... Quỹ bảo trợ “Vì ngày mai” ở Hậu Giang có 20 triệu đồng, Bình Định có 10 triệu đồng, Phú Yên có chi hội của học sinh góp 2 triệu đồng, thành phố Hồ Chí Minh có phòng khám bệnh miễn phí, nhiều chi hội làm đường, làm cầu cống, giúp đỡ đồng bào bị bão lụt rất kịp thời, năng động. Đợt vận động của Trung ương Hội giúp đồng bào Nghệ Tĩnh trong vòng một tuần lễ đã thu và gửi số tiền tương đương 10 tấn gạo.
Những hoạt động sôi nổi của các chi Hội đã thôi thúc thanh niên dân tộc ở các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai – Kon Tum, Lâm Đồng sinh hoạt tích cực, kể cả các thanh niên đã có con, vào những đêm trăng vẫn tham gia sinh hoạt. Hoạt động của các tổ chức Hội trong các “Làng thanh niên” ở một số nơi đã giúp thanh niên thực hiện nếp sống mới như: Xây giếng nước, làm chuồng gia súc xa nhà, đau ốm phải đến trạm xá...
Trong các năm từ 1990 đến 1992, hoạt động Hội ở nhiều nơi đã đi vào giải quyết những vấn đề cơ bản như góp phần giải quyết việc làm, hướng dẫn nghề nghiệp, chăm lo đời sống cho thanh niên, điển hình là các tỉnh: An Giang, Hậu Giang, Lâm Đồng, Bình Định, Quảng Nam - Đà Nẵng... Những hoạt động kinh tế của Hội thời gian này có xu hướng phát triển góp phần thực hiện 3 chương trình kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời tạo quỹ để “Lấy phong trào nuôi phong trào”. ở nhiều nơi Hội cũng đã có câu lạc bộ, trung tâm dạy nghề, cơ sở dịch vụ văn hoá, kỹ thuật…
Tại Đại hội Thanh niên xuất sắc làm theo lời Bác nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người được tổ chức tại Hà Nội, Trung ương Đoàn đã biểu dương nhiều tổ chức và đoàn viên, hội viên thanh niên có những thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, học tập, công tác, Bảo vệ Tổ quốc, hoạt động xã hội. Chuyển biến rõ nhất trong hoạt động của Hội LHTN là kể từ sau Hội nghị đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam tháng 12-1990 cùng với tổ chức Đoàn, Hội đã tổ chức nhiều hoạt động hướng tới những sự kiện lớn năm 1991 như kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đoàn, 50 năm ngày thành lập Đội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.
Bằng nhiều hoạt động thu hút sự tự nguyện của thanh niên, các bạn trẻ đã cùng nhau xây dựng kế hoạch hoạt động với nhiều loại hình văn hoá, thể thao, du lịch chào mừng kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các ngày lễ lớn trong năm 1991. Nhiều hoạt động rầm rộ diễn ra ở các địa phương: Trại họp mặt ở Vũng Tàu – Côn Đảo, hội trại ở các cơ sở tỉnh Quảng Trị, Gia Lai – Kon Tum, Lâm Đồng, Kiên Giang, Khánh Hoà... Các cuộc thi “Tiếng hát với cây đàn ghi ta” và “Thời trang trẻ” của Thừa Thiên – Huế, hoạt động “về nguồn” của các bạn trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định, Phú Yên, các cuộc du khảo về lại căn cứ địa cách mạng để ôn lại truyền thống cách mạng của các thế hệ cha anh được tổ chức đều khắp ở các quận của TP. Hồ Chí Minh, Long An, Thuận Hải, Sông Bé, Huế. Những hoạt động giao lưu giữa các huyện trong tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hoà, An Giang, Minh Hải, Huế... đã tạo được không khí sôi nổi của tuổi trẻ trong các ngày hội. Hàng trăm nghìn thanh niên đã được bộc lộ rõ nét, khẳng định sự có mặt và sức sống tiềm tàng của Hội LHTN Việt Nam.
Đồng thời với việc tổ chức những hoạt động nhằm giáo dục chính trị tư tưởng, từ năm 1991 Hội đã tổ chức những hoạt động theo các chương trình hướng vào giải quyết những nhu cầu cơ bản của thanh niên.
+ Chương trình giúp nhau làm ăn, phát triển tài năng trẻ.
Nổi bật là hình thức bảo trợ tài năng trẻ. Dựa trên những nhu cầu thực tế và chính đáng về phát triển văn hoá, nghề nghiệp và kinh tế, đồng thời tạo điều kiện cho thanh niên vượt khó khăn, tự khẳng định mình phấn đấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, Trung ương Hội LHTN Việt Nam đã tổ chức cuộc gặp mặt các nhà doanh nghiệp trẻ. Hơn 60 bạn trẻ ở các tỉnh phía Nam đã tham dự, đại diện cho các thành phần kinh tế gia đình tư nhân, quốc doanh, tập thể trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ. Trong cuộc gặp xuất hiện các gương mặt doanh nghiệp trẻ như: Chủ doanh nghiệp Võ Quốc Thắng mới 24 tuổi đã là giám đốc xí nghiệp gạch Đồng Tâm (thành phố Hồ Chí Minh) với 3 cơ sở sản xuất, gần 200 công nhân, mỗi năm sản xuất hàng triệu viên gạch hoa với nhiều mẫu mã khác nhau.
Nguyễn Văn Ninh 27 tuổi ở Ô Môn (Hậu Giang) đã bỏ ra 450 ngàn đồng vốn thả cá mè Vinh trên ruộng lúa, một việc chưa có nông dân nào dám làm vì cho rằng cá mè Vinh sẽ “phóng” mất hết. Nhưng chưa đầy 1 năm sau, Nguyễn Văn Ninh đã thu được 4.5 triệu đồng và còn hơn 7000 con cá giống (Trị giá hơn 7 triệu đồng) cho mùa sau.
Đại biểu trẻ nhất là Phạm Tư 23 tuổi ở Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, người đã “liều mình” thử nghiệm và nhân giống đậu xanh LH-1 và thu được kết quả khá cao trên diện tích 0.8 ha, anh đã tích luỹ được hơn 5 triệu đồng (sau khi đã trừ hết chi phí và chi tiêu).
Trong cuộc gặp gỡ này còn nhiều những “triệu phú trẻ” như thế, họ có mặt trên mọi lĩnh vực như: Sản xuất lương thực thực phẩm, tiểu thủ công nghiệp, hàng tiêu dùng, máy móc... Có thanh niên giàu do làm ruộng (Châu Quốc Việt tỉnh Minh Hải) hoặc nhờ nuôi tôm (Trần Vinh Phước tỉnh Khánh Hoà), làm đồ gỗ, gốm mĩ nghệ như Phạm Trí ở Lâm Đồng, Hữu Nghĩa tỉnh Đồng Nai và sản xuất dép nhựa của Dương Hùng, cao su Bình Tiên, TP. Hồ Chí Minh. Cuộc gặp mặt đã thực sự trở thành điểm hội tụ đầu tiên của các nhà doanh nghiệp cũ, mới, của sự kết hợp giữa thành thị và nông thôn, mở ra một mô hình phương pháp để Hội LHTN các tỉnh, thành phố phát triển nhằm tập hợp và giúp đỡ các lực lượng trẻ biết làm kinh tế, biết tổ chức sản xuất kinh doanh, biết gắn liền giữa khoa học, kỹ thuật với nhu cầu sản xuất, thị trường.
ở cơ sở, trong khuôn khổ của chương trình bảo trợ tài năng trẻ, nhiều hoạt động thiết thực và sôi nổi đã diễn ra. Văn phòng tư vấn phát triển kinh tế thanh niên của Uỷ ban Hội LHTN thành phố Hồ Chí Minh đã bước đầu định hướng, giúp đỡ thanh niên phát triển sản xuất, làm kinh tế. Đến lúc này đã hỗ trợ vốn cho bạn trẻ với tổng số tiền nhiều triệu đồng và chuẩn bị ra mắt câu lạc bộ doanh nghiệp trẻ. Riêng ở quận 5, câu lạc bộ doanh nghiệp trẻ đã được hình thành đến số lượng 32 nhà doanh nghiệp, trong đó có 10 doanh chủ lão thành làm cố vấn. Nội dung hoạt động của các câu lạc bộ là giúp nhau thông tin tiếp thị, bồi dưỡng kiến thức quản trị doanh nghiệp và hỗ trợ vốn hoạt động.
Các cuộc họp mặt nối tiếp nhau của các nhà triệu phú trẻ ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Long An, huyện Vạn Ninh (Khánh Hoà), quận Đống Đa (Hà Nội), họp mặt các nhà sản xuất, kinh doanh giỏi ở An Giang, Kiên Giang, Cửu Long, Thừa Thiên – Huế... đã tập hợp được một đội ngũ trẻ trung, mạnh dạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của đất nước. Loại hình hoạt động này đã gây được sự chú ý và hưởng ứng của các địa phương.
Trong khu vực nông thôn, nông nghiệp, hình thức tổ chức các chi hội khuyến nông là mô hình tập hợp rộng rãi thanh niên nông thôn được chú ý phát triển, tiêu biểu như An Giang có tới 57 chi hội khuyến nông, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An, Quảng Nam - Đà Nẵng cũng đã lập được nhiều chi hội. Qua các chi hội này, thanh niên đã tiếp cận với các kĩ thuật mới, tiên tiến, ứng dụng những thành tựu khoa học, sinh học vào sản xuất. Nhiều giống lúa mới đã được thể nghiệm, nhiều thế phẩm kích thích cây trồng, vật nuôi phát triển đã được đưa vào sản xuất. Trung tâm phát triển tài năng sinh học đã mở nhiều lớp huấn luyện tại cơ sở cho thanh niên nông thôn, đưa tiến bộ sinh học vào sản xuất gia đình, khẳng định mô hình tập hợp và dạy nghề cho thanh niên hấp dẫn và có hiệu quả trong điều kiện hiện nay.
Tham gia vào việc giải quyết việc làm cho thanh niên, các trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm của Hội LHTN Quảng Nam - Đà Nẵng, Hậu Giang, An Giang, Kiên Giang, Bình Định, Lâm Đồng, Tiền Giang, thành phố Biên Hoà (Đồng Nai)... Tuy còn nhiều khó khăn song vẫn duy trì các lớp dạy nghề, thường xuyên củng cố, tìm kiếm những việc làm, ngành nghề phù hợp cho thanh niên, góp phần giải quyết vấn đề việc làm tại địa phương cơ sở. Trung tâm dạy nghề của Uỷ ban Hội tỉnh Hậu Giang năm 1991 đã giúp 400 bạn trẻ có việc làm. Trung ương Hội đã tập trung xây dựng, từng bước hoàn chỉnh trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm nhằm hướng dẫn mô hình hoạt động cho cơ sở, vừa trực tiếp giúp đỡ thanh niên có việc làm, tăng thu nhập.
+ Chương trình bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc, chăm lo đời sống văn hoá tinh thần cho thanh niên được thực hiện ở nhiều cơ sở:
Bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc cùng với việc chăm lo đáp ứng các nhu cầu văn hoá cho thanh niên là công việc lâu dài, to lớn và không đơn giản. Chương trình này đã được Trung ương Hội xác định thành những công việc cụ thể để phát động và tổ chức thực hiện.
Cuộc thi sáng tác ca khúc trẻ do Trung ương Hội phát động nhằm mang đến cho sinh hoạt thanh niên nhiều âm điệu đặc sắc của cuộc sống đã thu hút nhiều giới và nhiều bạn trẻ tham gia với hơn 150 ca khúc dự thi, Ban tổ chức đã chấm và chính thức trao 27 giải thưởng cho các loại ca khúc vào ngày 1-6-1991. Từ đó, những bài hát cộng đồng luôn được phổ biến rộng rãi trong thanh niên cả nước.
Tham gia phong trào này nhiều tỉnh, thành phố đã liên tiếp tổ chức các cuộc thi những giọng hát hay tại địa phương mình như: Bình Định, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế... Hình thức câu lạc bộ cộng đồng đã phát triển tại thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Long An... Tại thành phố Hồ Chí Minh liên hoan tiếng hát “Nụ cười hồng” với chủ đề quê hương gồm nhạc cộng đồng, hợp xướng, nhạc tài tử, cải lương đã lôi cuốn hơn 500 diễn viên tham gia, thu hút đông đảo thanh niên, nhất là thanh niên Thiên chúa giáo.
Tại cuộc gặp gỡ thanh niên các dân tộc Tây Nguyên tổ chức tại Buôn Mê Thuột với sự tham gia của thanh niên các dân tộc 3 tỉnh: Đắc Lắc, Gia Lai – Kon Tum, Lâm Đồng đã tập hợp đông đảo lực lượng thanh niên với các nét riêng biệt của văn hoá dân tộc. Cuộc gặp gỡ để lại ấn tượng mạnh mẽ cho mọi người, góp phần nâng cao ý thức chăm lo, gìn giữ và phát triển nền văn hoá, nghệ thuật các dân tộc Tây Nguyên.
Các hoạt động văn hoá truyền thống các dân tộc Việt Nam đã được trở lại với các cuộc thi, các điệu hát ru, hát dân ca 3 miền Bắc, Trung, Nam, hát cải lương, dân ca khu Năm, Bình Định, An Giang, Minh Hải... Các cuộc thi “Nữ sinh duyên dáng”, “Người đẹp đất Quảng” ở Kiên Giang, Quảng Nam - Đà Nẵng... có sức hấp dẫn, lôi cuốn thanh niên đáp ứng nhu cầu về cái đẹp trong cuộc sống và hướng đến những cái mới, sinh động của thanh niên.
Bằng những hoạt động cụ thể, các đơn vị, chi hội trực thuộc Uỷ ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam đã cố gắng nâng cao chất lượng hoạt động tại cơ sở, tham gia một cách thiết thực các chương trình đã đề ra. Trung tâm tư vấn thanh niên đã có thêm nhiều đề tài tâm lí xã hội phục vụ nhu cầu của thanh niên. Xưởng phim thanh niên đã hoàn thành hai bộ phim “Nói với người đang yêu” và “Chuyện tình bên một dòng sông” và một bộ phim giáo khoa tuyên truyền về kế hoạch hoá gia đình cho thanh niên. Hoạt động của Câu lạc bộ nhiếp ảnh của Trung ương Hội cũng mang lại những kết quả tốt. Câu lạc bộ đã tổ chức được 3 triển lãm ảnh màu vào các dịp: Tết Nguyên đán, kỷ niệm 30-4 và 2-9 thu hút đông đảo thanh niên và những người yêu thích nghệ thuật nhiếp ảnh đến xem. Hơn 100 hội viên đã tham gia các kỳ thi và triển lãm ảnh nghệ thuật trong nước và quốc tế đem về hàng chục giải thưởng (4 ở ý, 1 do tổ chức ACCU tổ chức, 4 ở Hồng Kông, 2 ở Thuỵ Điển, 10 giải ở các kì thi trong nước). Câu lạc bộ đã tổ chức được 11 lượt đi sáng tác ở các tỉnh, thành phố. Trung tâm dịch vụ văn hoá thanh niên tổ chức 250 buổi sinh hoạt cho 50.000 lượt hội viên, góp phần phát hiện bồi dưỡng tài năng trẻ, tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá. Trung tâm được Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội đánh giá là một trong những đơn vị có hoạt động lành mạnh, nghiêm túc và có chất lượng cao.
+ Chương trình ánh sáng văn hoá được triển khai ở nhiều tỉnh, thành phố:
Một số tỉnh đã có sự phối hợp với Sở Giáo dục để tạo ra các điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, sách vở, đồ dùng giảng dạy và học tập cho giáo viên và học sinh. Năm 1991, Đắc Lắc đã tổ chức được 100 lớp xoá mù cho 9000 người; thành phố Đà Nẵng và huyện Duy Xuyên (Quảng Nam - Đà Nẵng) đã mở được gần 50 lớp, xoá mù cho 2000 người; các huyện, thị Phan Rang, Phan Thiết, Ninh Phước (Thuận Hải) đã xoá mù và phổ cập phổ thông cơ sở cho hơn 100 em. Các tỉnh Quảng Ngãi, Thừa Thiên – Huế, Gia Lai – Kon Tum, Kiên Giang cũng có nhiều cố gắng trong việc triển khai thực hiện chương trình.
+ Chương trình công tác xã hội được thực hiện có hiệu quả:
Chương trình xóa “Cầu khỉ” ở đồng bằng sông Cửu Long của Hội LHTN Việt Nam chính thức tiến hành từ tháng 10-1991 đã thu được kết quả khả quan. Trung ương Hội đã nhận được sự ủng hộ của các dơn vị xây tặng 16 cầu cho 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long với tổng số tiền là 55 triệu đồng.
Chương trình đã được các địa phương hưởng ứng bằng những cách làm mới, nâng cao hiệu quả của sự giúp đỡ nhân dân các vùng gặp khó khăn, thí dụ như hoạt động cứu trợ xã hội, nhân đạo, từ thiện của Hội có nét phổ biến mới là:
Có tổ chức, hình thành các trung tâm, đội, nhóm công tác xã hội để trực tiếp thực hiện cứu trợ các cá nhân, gia đình và cơ sở gặp khó khăn, hoạn nạn, thiên tai...
Đồng thời với những hoạt động thường xuyên, Hội còn phát động các cuộc vận động xã hội rộng lớn trong hội viên và trong thanh niên như: Giúp đỡ đồng bào Nghệ Tĩnh thiếu đói; đồng bào Sơn La và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị lũ lụt. Kết quả số tiền đã quyên góp, ủng hộ là 80 triệu đồng.
Các hoạt động theo chủ đề: “Uống nước nhớ nguồn”, “Tấm lòng vàng”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Tấm áo nghĩa tình”, “Vì trẻ em mồ côi, khuyết tật”, “Vì những bà mẹ liệt sĩ”, “Vì những người hoạn nạn”... là những hình thức sinh động vừa có tác dụng giáo dục đạo lý tốt đẹp trong truyền dân tộc, vừa thu hút được đông đảo các đối tượng tham gia.
Thành phố Hồ Chí Minh qua các đợt vận động là đơn vị dẫn đầu các địa phương trong các hoạt động cứu trợ xã hội. Ngoài ra, Uỷ ban Hội các tỉnh, thành phố khác còn tổ chức quyên góp trợ giúp các trẻ em khuyết tật, nghèo khó, thất học với tổng số tiền 100 triệu đồng, tiêu biểu là Đắc Lắc, Quảng Nam - Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Tiền Giang. Đáng chú ý là Hội Bạn thiếu nhi vào đời sớm ở thành phố Hồ Chí Minh đã quyên góp, tạo dựng những mái ấm tình thương cho các trẻ nhỏ lang thang không nhà cửa. Nhiều câu lạc bộ, chi hội thầy thuốc trẻ được hình thành và phát triển với các phòng khám bệnh ở Thuận Hải, các đợt khám phát thuốc cho đồng bào và thanh, thiếu nhi ở vùng sâu các tỉnh Đắc Lắc, Đồng Nai, Gia Lai – Kon Tum, Cửu Long, An Giang được tổ chức thường xuyên.
Nắm bắt được nhu cầu các đối tượng thanh niên, năm 1992, TW Hội đã thành lập “Quỹ hỗ trợ vốn cho thanh niên sản xuất” với số tiền trên 500 triệu đồng. Đây chính là chất xúc tác khơi dậy phong trào lập “Quỹ hỗ trợ vốn cho thanh niên sản xuất” ở nhiều tỉnh và thành phố.
Hà Nội, Minh Hải, Tiền Giang, An Giang, Đắc Lắc, Sơn La, Hải Hưng (cũ) huyện Yên Phong (Bắc Ninh) và các nơi khác được Trung ương Hội trợ vốn đều sử dụng và phát triển tốt. Đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh nơi đầu tiên làm thí điểm, quỹ trợ vốn cho thanh niên phát triển cả về số lượng và chất lượng. Năm 1992, với số vốn hơn 100 triệu đồng, Uỷ ban Hội thành phố đã trực tiếp giúp cho 150 bạn trẻ, riêng đối tượng hội viên là thương binh được vay 11,5 triệu đồng.
Bên cạnh sự trợ giúp bằng tiền, các chi hội, đội, nhóm tập thể và cá nhân còn giúp nhau kỹ thuật nuôi trồng cây con để đưa năng suất lên cao. Nhiều lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa tiến bộ sinh học vào sản suất và đời sống được tổ chức ở Gia Lai, An Giang, Ninh Thuận, Minh Hải, Đắc Lắc, Kiên Giang, Hà Nội.
Trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm ở Trung ương Hội và địa phương đã chú trọng việc dạy nghề cho thanh niên nông thôn, giúp các nhà doanh nghiệp trẻ có thêm kiến thức về kinh doanh, luật pháp... để tiếp cận với cơ chế thị trường. Trung tâm dạy nghề và giải quyết việc làm ở Cần Thơ trở thành một Trung tâm hoạt động có hiệu quả, năm 1992 đã dạy nghề cho 475 thanh niên và giới thiệu cho 210 thanh niên có việc làm ổn định.
Làng thanh niên tiếp tục được phát triển ở Tây Nguyên. Riêng tỉnh Gia Lai đến năm 1992 đã xây dựng được 50 làng thanh niên, trong đó có 27 làng hoạt động tốt.
Chương trình giúp nhau làm ăn của Hội sau 2 năm hoạt động đã thực sự trở thành niềm tin, là chỗ dựa tin cậy của nhiều bạn trẻ, góp phần tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội (người lao động giỏi, người công dân tốt). Từ đó tăng thêm sự gắn bó của hội viên, thanh niên với tổ chức Hội.
Tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, chương trình hoạt động của Hội năm 1992 nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu của các cấp bộ Hội và hội viên góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho thanh niên, hướng tới chào mừng Đại hội các cấp của Đoàn và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI.
Chương trình giúp nhau làm ăn vẫn được các cấp bộ Hội coi là chương trình trọng tâm vì có tác động sâu sắc đến mọi tầng lớp thanh niên.
Đáp ứng nguyện vọng của đông đảo thanh niên muốn ổn định cuộc sống bằng đôi tay lao động của mình, tất cả đều cần sự giúp đỡ của toàn thể xã hội và bạn bè. Ngoài “Quỹ hỗ trợ vốn cho thanh niên sản xuất”, Uỷ ban Hội các cấp còn tranh thủ quỹ xoá đói giảm nghèo của Nhà nước, vận động thanh niên hỗ trợ lẫn nhau, đã có quỹ tới 130 triệu đồng cho vay với lãi suất thấp. Nhiều dự án nhờ được trợ vốn đã thực hiện có hiệu quả như dự án chăn nuôi ở huyện Cần Giuộc, dự án trồng dưa hấu ở huyện Châu Thành...
Các huyện Tân Uyên, Thuận An, Bù Đăng tỉnh Sông Bé đã tổ chức vận động gây quỹ cho sinh viên vay làm kinh tế gia đình. Qua theo dõi, kiểm tra 70 thanh niên được vay vốn đã làm ăn có hiệu quả, bảo đảm hoàn trả vốn lãi đúng hợp đồng. Quảng Nam - Đà Nẵng có 26 đội nhóm giúp nhau làm ăn có hiệu quả, quỹ trợ vốn có gần 25 triệu đồng. Kiên Giang đã trợ vốn cho 19 cá nhân, 3 tập thể với số tiền 12 triệu đồng, riêng huyện Hà Tiên bằng nguồn tài trợ của huyện cũng đã trợ vốn cho thanh niên 10 triệu đồng. Chi hội trồng nho ở Ninh Thuận đã sử dụng vốn trợ giúp có hiệu quả cao.
Chương trình khuyến học, khuyến tài được thực hiện ở nhiều nơi, với “quỹ học bổng hiếu học” đã góp phần nâng cao uy tín của Hội LHTN Việt Nam trong xã hội.
Năm 1992, được sự trợ giúp của 32 đơn vị, tập thể và các nhà hảo tâm, Hội LHTN Việt Nam đã nhận được hơn 200 triệu đồng và tổ chức trao học bổng cho 339 học sinh, sinh viên nghèo ở hầu hết các địa phương trong cả nước. Nhiều bạn trẻ nhận học bổng đã xứng đáng với niềm tin của tập thể, trở thành tấm gương sáng trong phong trào học tập ở các trường.
ở địa phương, quỹ học bổng hiếu học, bảo trợ tài năng trẻ đã phát triển rộng khắp trở thành một hình thức có ý nghĩa xã hội to lớn. Uỷ ban Hội tỉnh Ninh Thuận có số quỹ 110 triệu đồng số quỹ của Uỷ ban Hội một số huyện: Ninh Sơn 20 triệu, Ninh Phước 15 triệu, Phan Rang 8,5 triệu. Uỷ ban Hội tỉnh Cần Thơ xét và cấp 65 suất học bổng với số tiền hơn 9 triệu đồng. Lâm Đồng có số quỹ 50 triệu đồng, năm 1992 trao cho 65 học sinh, sinh viên nghèo. Quảng Nam - Đà Nẵng trao 34 suất với số tiền 13,6 triệu. Số tiền quỹ của Uỷ ban Hội Sông Bé là 39 triệu. Tỉnh Thừa Thiên - Huế đã cấp 86 suất học bổng từ quỹ “Vì sự nghiệp phát triển tài năng trẻ”, ngoài ra tỉnh còn nhiều loại học bổng như: Học bổng Nguyễn Trường Tộ (năm 1992 cấp cho 22 sinh viên) học bổng vượt khó (cấp cho 42 sinh viên và 8 học sinh nghèo). Tổng số tiền Uỷ ban Hội Thừa Thiên - Huế đã báo cáo trong năm 1992 là 90 triệu đồng.
Uỷ ban Hội tỉnh Hải Hưng tuy mới ra đời chưa được một năm đã thành lập quỹ học bổng Mạc Đĩnh Chi, đợt đầu cấp 27 suất với số tiền 2,7 triệu.
Uỷ ban Hội Minh Hải cấp 22 suất học bổng, mỗi suất 400 ngàn đồng, cấp huyện, thị và cơ sở cấp 51 suất với số tiền cho mỗi suất từ 200 đến 450 ngàn đồng.
Phong trào “ánh sáng văn hoá” xoá nạn mù chữ, mở lớp học tình thương ở một số tỉnh như Gia Lai, Đắc Lắc, Quảng Nam - Đà Nẵng, Ninh Thuận, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế, Sông Bé được duy trì và phát triển tốt. Đắc Lắc đã phối hợp ngành giáo dục xoá mù chữ cho 1.400 người trong đó có 830 thanh niên dân tộc. Gia Lai vận động được 3.112 thanh niên tự nguyện xoá nạn mù chữ, toàn tỉnh có 19 lớp học tình thương với 468 học sinh; Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức được 40 lớp học với 1.200 học sinh. Huyện Cần Đước (Long An) 4 xã có lớp học tình thương thu hút 94 em bé nghèo đến lớp. Chi hội I Vĩnh Tuy, huyện Cần Giuộc tự đứng ra xây cất lớp học và vận động 63 em đi học.
+ Chương trình cải thiện môi sinh:
Được tập trung vào chương trình giải toả cầu khỉ ở đồng bằng sông Cửu Long. Uỷ ban Hội Tiền Giang đã khảo sát và xây dựng cây cầu ở xã Mỹ Lợi với tổng giá trị 4 triệu đồng. Minh Hải đưa vào sử dụng 5 cây cầu với tổng số kinh phí xây dựng 25 triệu đồng. Đồng Tháp bắc 137 cây cầu ván trị giá 287 triệu đồng, trong đó nhân dân và thanh niên đóng góp 187 triệu và công làm cầu. Các chi hội ấp thuộc huyện Cần Giuộc (Long An) đã bắc mới và sửa chữa trên 100 cây cầu, trong đó có 2 cây cầu lớn bằng bê tông. Kiên Giang, tỉnh chỉ đạo xây dựng 5 cầu, huyện, xã bắc trên 60 cây cầu lớn nhỏ và xoá 208 cầu khỉ.
Tổ chức hội các cấp còn vận động thanh niên tham gia bảo vệ môi trường, thực hiện Nghị quyết liên tịch của Trung ương Đoàn với Uỷ ban khoa học Nhà nước ký ngày 18-7- 1990 về việc “Động viên tuổi trẻ Việt Nam tham gia bảo vệ môi trường”.
Các hoạt động xã hội của Hội LHTN Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu, nhiều sáng kiến hoạt động đem lại tình cảm đẹp đẽ cho nhiều gia đình thương binh, liệt sĩ, cho nhiều cụ già không nơi nương tựa, những trẻ em mồ côi không còn nhà cửa.
Uỷ ban Hội Đắc Lắc đã phối hợp với Trung tâm công tác xã hội tổ chức cứu trợ cho trại phong EAKA, tổ chức đêm văn nghệ tình nghĩa quyên góp hơn 1 triệu đồng, trao sổ tiết kiệm và tặng quà cho các gia đình chính sách ở 7 phường nội thị xã Buôn Mê Thuột nhân ngày 27-7.
Câu lạc bộ kỹ năng Thừa Thiên - Huế sau 3 năm hoạt động đã trở thành mô hình mẫu: Với 60 hội viên giàu lòng nhân ái và tâm huyết đã tổ chức vận động quyên góp và chi cho hoạt động nhân đạo gần 40 triệu đồng. Quảng Trị đã tổ chức thanh niên chăm sóc, tu bổ nghĩa trang Trường Sơn và các nghĩa trang liệt sĩ khác. Hà Nội tổ chức khám và chữa bệnh miễn phí cho thân nhân liệt sĩ ở 2 huyện Gia Lâm, Sóc Sơn, thăm và tặng quà trại điều dưỡng cha mẹ liệt sĩ cô đơn. Thường xuyên tổ chức các đêm nhạc từ thiện lấy quỹ bảo trợ cho trẻ em và người già có hoàn cảnh đặc biệt. Tiền Giang tặng 5 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách. Đồng Nai tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho gần 2000 người nghèo với tổng số tiền 9 triệu đồng.
Các đội công tác xã hội ở Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức 8 đợt công tác trọng điểm, trao 3 sổ tiết kiệm cho 3 anh hùng lực lượng vũ trang và 62 sổ tiết kiệm cho các đối tượng chính sách. Khánh Hoà, trung tâm công tác xã hội đã vận động quyên góp 8 triệu đồng khám chữa bệnh miễn phí ở vùng xa xôi, hẻo lánh. Phong trào chăm sóc người già neo đơn, đồng bào dân tộc ít người, trẻ em lang thang, người gặp hoàn cảnh khó khăn, đã trở thành phong trào sâu rộng ở Lâm Đồng. Tổng số tiền phong trào đã vận động lên tới 200 triệu đồng.
Hoạt động du khảo, về nguồn đã thu hút được nhiều hội viên thanh niên tham gia. Ngoài những địa điểm lịch sử cách mạng ở địa phương, những chuyến đi dài ngày trở về với cội nguồn cách mạng của đoàn du khảo thành phố Hồ Chí Minh đã gây tiếng vang lớn.
Những hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, những hội thảo có chủ đề hấp dẫn, thiết thực chào mừng Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI đã tập hợp được nhiều bạn trẻ trong những đợt sinh hoạt lớn tạo được khí thế, niềm vui, sự gắn bó giữa người bạn cùng chung sở thích. Một số hội thi đã đạt được kết quả tốt như: “Tiếng hát về nguồn” của Ninh Thuận, “Nữ sinh thanh lịch”, “Người đẹp đất Quảng”, “Ca nhạc tình mẹ và đất nước”, “Dạ hội tuổi trẻ” của Quảng Nam - Đà Nẵng, “Hành quân về ấp Bắc” của Tiền Giang, "Hội thi cấy giỏi hàng năm" của Đồng Nai, “Lễ hội về nguồn” của Khánh Hoà, thi chạy Việt dã của Sông Bé, Minh Hải, Plâyku, Hội thi “Tiếng hát thanh niên đường phố” của Hà Nội, Liên hoan ca múa nhạc và giới thiệu hoa khôi của 5 huyện cụm I Đắc Lắc…
Trên mặt trận bảo vệ an ninh biên giới, an toàn xã hội, chống buôn lậu, nghiện hút... được các hội viên trong các đội thanh niên xung kích Hà Nội đã giúp chính quyền địa phương giải quyết những vụ việc tiêu cực, phạm pháp có hiệu quả, điển hình là các đội thanh niên xung kích quận Ba Đình, quận Hai Bà Trưng, phường Giáp Bát... Các chi hội thanh niên ở các vùng giáp biên tổ chức kết nghĩa với các đơn vị biên phòng, tặng quà, liên hoan văn nghệ nhân ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam 22-12 và phối hợp thực hiện các biện pháp phòng thủ biên giới. Uỷ ban Hội thành phố Hà Nội có sáng kiến hình thành đề tài nghiên cứu giáo dục thanh niên chậm tiến bằng các hoạt động xã hội và tổ chức thực nghiệm trong thực tiễn có kết quả.
Chuẩn bị tiến tới Đại hội lần thứ III, Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã chủ trương thực hiện một số chương trình hoạt động lớn.
Những chương trình này là sự tiếp nối các loại hình hoạt động của Hội trong những năm qua, song được mở rộng về qui mô, nâng cao về hiệu quả trong thời gian từ 1993 tiến đến Đại hội toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ III.
+ Chương trình giúp thanh niên lập nghiệp:
Các cấp bộ Hội chú trọng mở rộng chương trình hỗ trợ vốn cho thanh niên sản xuất. Tổng số quỹ trợ vốn lập nghiệp của Hội LHTN cho tập thể và cá nhân thanh niên vay năm 1992 lên đến 15 tỷ đồng. Nơi nhiều nhất như Sóc Trăng lên tới 4,5 tỷ, thành phố Hồ Chí Minh 3,8 tỷ. Số thanh niên ở 20 tỉnh thành được vay vốn là 6,4 triệu người. Năm 1994 đã có 272 dự án vay vốn của các cấp bộ Hội được duyệt.
Ngoài ra, các cấp bộ Hội còn tập trung chỉ đạo việc thành lập Hội doanh nghiệp trẻ, xây dựng chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trẻ gồm các vấn đề thông tin, tư vấn, tập huấn nghiệp vụ, nguồn vốn và chuyển giao công nghệ trong các loại hình tổ chức thích hợp. Mặt khác tìm cách tháo gỡ cơ chế, tìm nguồn vốn hỗ trợ để nhân rộng mô hình làng thanh niên, củng cố các trung tâm xúc tiến việc làm cho thanh niên, thông qua các hình thức gặp gỡ tiếp xúc để mở rộng mối quan hệ với thanh niên Việt kiều cho các chương trình hoạt động của Hội.
+ Chương trình khuyến học, khuyến tài:
Đồng thời với việc phát huy phong trào giúp nhau làm ăn lập nghiệp, Hội rất chú trọng công tác khuyến học, khuyến tài để tập hợp đoàn kết thanh niên có ý thức vươn lên. Cho đến lúc này Uỷ ban TW Hội đã trao gần 8 ngàn suất học bổng giúp đỡ những học sinh, sinh viên nghèo học giỏi bằng quỹ học bổng hiếu học với tổng giá trị trên 4 tỷ đồng. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 1994, báo Thanh niên (cơ quan TW Hội) đã dành 150 triệu đồng cho quỹ học bổng mang tên người sinh viên yêu nước Nguyễn Thái Bình. Ngoài quỹ học bổng của Trung ương Hội, các tỉnh, thành Hội còn có quỹ bảo trợ tài năng trẻ như Quảng Nam - Đà Nẵng, Minh Hải, Lâm Đồng, Cần Thơ, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đắc Lắc, Hà Nội... Đến năm 1994 quỹ hỗ trợ tài năng trẻ đã giúp đỡ 261 học sinh, sinh viên xuất sắc. Riêng thành phố Hồ Chí Minh đã trao 200 suất học bổng trị giá hàng trăm triệu đồng. Cuộc vận động quỹ tín dụng học tập cho thanh niên các dân tộc Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ đã thu hút 35 tỉnh, thành tham gia với số tiền trao là hơn 70 triệu đồng.
Năm 1994, Trung ương Hội cũng đã triển khai dự án chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong 5 địa phương thí điểm. Đẩy mạnh việc huy động hội viên, thanh thiếu niên đến lớp, mở các lớp tình thương, xây dựng đội ngũ giáo viên. Sơ kết việc thực hiện thông tư liên tịch số 01 với Bộ Giáo dục và Đào tạo về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tăng gấp đôi số địa phương có dự án chương trình này bằng phương thức tổ chức thanh niên góp phần xây dựng Hội.
Phương thức mang tính học thuật nhằm hỗ trợ cho sinh viên nâng cao chất lượng học tập, tích luỹ kiến thức, từng bước thực hiện nghiên cứu khoa học vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống... được Hội Sinh viên rất quan tâm. Hầu hết tổ chức Hội ở cơ sở đều triển khai các loại hình hoạt động theo hướng này. Đó là các “Câu lạc bộ khoa học kỹ thuật trẻ” phát triển ở hầu hết các trường đại học và cao đẳng; “Tuần khoa học sinh viên” của trường Đại học Bách khoa Hà Nội; “Chi hội học tập” của Đại học Hàng Hải; “Chi hội Y học trẻ” của Đại học Y khoa Hà Nội và Y khoa Thái Nguyên; nhóm nghiên cứu khoa học của Đại học Sư phạm Huế; nhóm “nghiên cứu môn học” của Đại học Thuỷ sản Nha Trang; “Hội quán”, “Thư quán sinh viên” của các trường Đại học Tổng hợp, Y – Dược, Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh... Ngoài ra, nhiều trường còn có các hình thức phổ biến khoa học kỹ thuật, các cuộc thi Ôlimpic các môn học ở cấp khác nhau, lập các nhóm đề tài sinh viên thi các giải pháp thiết kế, Hội thi sáng tạo khoa học kĩ thuật tại các trường Y – Dược toàn quốc, Hội Sinh viên trường Đại học Tài chính – kế toán phối hợp với tổ chức Đoàn lập “Quỹ hỗ trợ tài năng trẻ” với số tiền lớn để giúp đỡ sinh viên nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, trường Đại học Bách khoa Hà Nội bước đầu tổ chức sản xuất và triển khai công nghệ.
Hội Sinh viên các trường phối hợp với tổ chức Đoàn, với các phòng nghiên cứu, phòng đào tạo tổ chức các buổi báo cáo thực tế nhằm bồi dưỡng phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học bằng cách mời các thầy cô dạy giỏi, các giáo sư, tiến sĩ có nhiều công trình khoa học nói chuyện về quá trình phấn đấu rèn luyện, học tập của bản thân, nói chuyện về thân thế và sự nghiệp các nhà khoa học lớn, về phương pháp tư duy khoa học... để khuyến khích sinh viên phát huy năng khiếu và sở thích của mình. Nhiều trường còn thành lập các câu lạc bộ học tập chuyên ngành như: Câu lạc bộ tiếng Anh, tiếng Pháp (Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội); câu lạc bộ Tin học (Đại học Tổng hợp Huế)... Thông qua đề xuất và kiến nghị của Hội Sinh viên, nhiều trường đã tạo điều kiện giúp cho sinh viên tự học tốt hơn, như bố trí phòng học, giảng đường, tăng thêm ánh sáng, cung cấp thêm giáo trình, tài liệu tham khảo, thuê mượn phim nhựa, phim video phục vụ các chuyên ngành khoa học. Hội Sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc dân chiếu phim giới thiệu hoạt động của các hãng du lịch nước ngoài cho sinh viên chuyên ngành du lịch, Hội Sinh viên trung tâm Đại học Thăng Long bồi dưỡng sinh viên về Tin học...
Cùng với việc động viên, cổ vũ, khuyến khích sinh viên thi đua học tập, tham gia nghiên cứu khoa học với nhiều hình thức phong phú (như Hội nghị trao đổi phương pháp nghiên cứu khoa học – kỹ thuật; triển lãm, giới thiệu mẫu mã sản phẩm mới; triển lãm đề án xây dựng, kiến trúc...), tổ chức Hội các cấp còn giúp sinh viên hình thành các tổ, nhóm đảm nhận các chương trình đề tài nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Cuối năm 1991, đã có 44 đề tài của sinh viên và 6 trường đại học có nhiều sinh viên nghiên cứu khoa học được Bộ Giáo dục - Đào tạo và Hội Sinh viên xét tặng giải thưởng, nổi bật là đề tài của Lê Hồng Tân (Đại học Kinh tế quốc dân) về cải tiến hình thức thanh toán séc, đề tài của Nguyễn Hùng Cường (Đại học Cần Thơ) về sử dụng có hiệu quả phân bón Urê. Đội tuyển sinh viên Đại học Hàng Hải đoạt giải Nhì cuộc thi Cơ học toàn quốc, sinh viên Đàm Hiếu Chí (Đại học Tổng hợp Hà Nội) đoạt giải Nhất cuộc thi Tin học sinh viên 1992... Nhiều sinh viên nhận được giải thưởng của Hội Sinh viên Việt Nam như Nguyễn Thị Lan (Nhạc viện Hà Nội), Nhâm Minh Thuận (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh), Dương Thị Phương Liên (Đại học Cần Thơ), Trần Văn Doanh (Học viện quân sự)...
Để giúp đỡ và khuyến khích sinh viên vươn lên khắc phục khó khăn, phấn đấu học tập đạt kết quả tốt, từ cơ sở đến Trung ương Hội đã trao 270 suất học bổng và năm 1991-1992 đã trao nhiều suất học bổng mang tên học bổng Hội Sinh viên và một số học bổng khác. Nhiều tỉnh, thành đã có quỹ học bổng để hỗ trợ và thưởng cho học sinh, sinh viên có nhiều thành tích trong học tập, trong việc khắc phục khó khăn, vượt qua những hoàn cảnh ngặt nghèo để học tập tốt, như tỉnh Đồng Tháp có “Học bổng vượt khó học giỏi”, tỉnh Yên Bái có “Học bổng Hoàng Văn Thụ”, Long An xây dựng “Quỹ bảo trợ học sinh, sinh viên Nguyễn Thái Bình”, tỉnh Thái Bình có “Học bổng Lê Quý Đôn”, thành phố Hồ Chí Minh có “Học bổng Lê Quý Đôn”, “Học bổng Nguyễn Trường Tộ”, “Học bổng vì ngày mai phát triển”...
Sinh viên nước ta trong thời kỳ mới đã và đang kế tục xuất sắc truyền thống cách mạng của cha anh, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, hăng hái tham gia công cuộc đổi mới đất nước, sớm có ý chí lập thân, lập nghiệp, khát khao được cống hiến và trưởng thành. Từ phong trào học tập rèn luyện của tuổi trẻ học đường, những bông hoa tiêu biểu ngày càng nở rộ. Đó là các bạn sinh viên Ngô Đắc Tuấn, Trần Thế Trung, Đỗ Quốc Anh (Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội); Phạm Trường Sơn, Ngô Ngọc Thuỷ (Học viện Kỹ thuật quân sự); Nguyễn Hữu Bình, Trần Phương Ngọc (Đại học Đà Nẵng); Trần Thị Cẩm Thanh (Đại học Ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh)...
+ Chương trình văn hoá - xã hội:
Tiếp tục phát triển các loại hình hoạt động như: Công tác xã hội, hoạt động đền ơn đáp nghĩa, về nguồn, du khảo, cứu trợ thiên tai, giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ.
Sơ kết chương trình xoá cầu khỉ ở đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng thành chương trình lớn góp phần cải tạo giao thông và xây dựng nông thôn mới. Trực tiếp triển khai một số dự án giúp đỡ số thanh niên lầm lỡ, sa ngã, mắc vào các tệ nạn xã hội, tổ chức thực hiện chương trình “Về mái ấm gia đình” cho trẻ lang thang cơ nhỡ. Cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động xã hội, các cấp Hội trong cả nước đã chú trọng phát triển các hoạt động về văn hoá TW Hội cũng rất quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục trong đó có việc sử dụng tốt tờ báo của Hội.
Ngày 27-3-1991, Bộ Văn hoá thông tin – thể thao và du lịch ra giấy phép số 470/BC-GPXB đổi tên Tuần tin thanh niên thành báo Thanh niên và quyết định cho báo ra thêm Thanh niên nguyệt san và các số báo tăng kỳ trong tuần.
Báo Thanh niên là cơ quan ngôn luận của Hội LHTN Việt Nam với nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục lý tưởng XHCN, đạo đức, lối sống; bồi dưỡng nâng cao tri thức về mọi mặt cho thanh niên, tập hợp các tầng lớp thanh niên nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, báo được phát hành rộng rãi trên tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước để phục vụ thanh niên. Toà soạn được đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Ngoài ra Báo còn có các văn phòng đại diện ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (41, đường Cách mạng Tháng Tám, thành phố Cần Thơ) và văn phòng đại diện các tỉnh miền Trung (360, Trưng Nữ Vương, thành phố Đà Nẵng). Báo đã phát triển các cơ sở vật chất cho mình như nhà in, khu du lịch thanh niên và mở các văn phòng đại diện tại nhiều địa phương khác trong cả nước.
Từ tờ báo 8 trang, 1 kỳ 1 tuần, đến nay báo Thanh niên đã xuất bản 3 kỳ 1 tuần, mỗi số 16 trang, tờ Thanh niên nguyệt san xuất bản hàng tháng. Như vậy, báo Thanh niên xuất bản 15 kỳ 1 tháng. Số lượng phát hành trên nửa triệu bản trong 1 tháng.
Những đóng góp của báo đối với phong trào thanh niên và công tác xã hội có hiệu quả tốt được đánh giá cao.
Bằng hoạt động từ thiện, báo Thanh niên đã vận động các nơi cứu trợ lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long.
Cứu trợ đồng bào Phú Yên bị bão lụt năm 1993 hơn 750 triệu đồng.
Vận động giúp đỡ nhiều nơi như các lớp tình thương ở quận 4, trường vừa học vừa làm “15 tháng 5” ở khu Mã Lạng (một trường tập hợp con em các gia đình có liên quan đến tệ nạn xã hội, các em bụi đời...) giúp “Tổ ấm người tàn tật” ở Tân Bình; trường Mầm non Gò Vấp, làng SOS v.v... giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ... với mức độ liên tục thường xuyên, với số tiền hàng trăm triệu đồng.
Phòng khám lao từ thiện do báo Thanh niên dành cho học sinh, sinh viên, giáo viên đã chữa lành bệnh cho hơn 400 bệnh nhân; mỗi bệnh nhân điều trị từ 8 – 9 tháng với cơ số thuốc phải chi tiêu rất nhiều tiền.
Từ năm 1991, báo Thanh niên mở mục “Người tìm việc – việc tìm người" để tăng thông tin tuyển người, đồng thời tích cực tìm “vệ tinh” giải quyết việc làm cho hàng ngàn người.
Bằng hoạt động giải quyết đơn thư khiếu nại, báo đã góp phần phát hiện và ngăn chặn nhiều hiện tượng tiêu cực lớn như vụ Bỉnh Họt, vụ Vina Nguyễn... và bảo vệ cho quyền lợi của thanh niên như vụ Nguyễn Mạnh Huy; Tống Chân Sinh, Dương Thị Hà My...
Hàng ngàn trường hợp khiếu tố, khiếu nại khác do báo Thanh niên đưa ra giải quyết có hiệu quả.
Báo Thanh niên nêu sáng kiến và đứng ra lập quỹ Học bổng Nguyễn Thái Bình.
Thành lập từ niên khoá 1991-1992, nhằm tài trợ cho học sinh, sinh viên nghèo, học sinh trong cả nước, số suất học bổng và số tiền được trao qua các năm học là:
Năm học 1991-1992, 60 suất, số tiền 50 triệu đồng.
Năm học 1992-1993, 100 suất, số tiền 100 triệu đồng.
Năm học 1993-1994, 158 suất, số tiền 150 triệu đồng.
Báo Thanh niên còn tuyên truyền, cổ động thường xuyên các hoạt động của Hội và phong trào trong thanh niên góp phần đẩy mạnh mọi mặt trong công tác Hội.
Để đi vào mọi tầng lớp thanh niên và các giới bạn đọc rộng rãi báo Thanh niên và các giới bạn đọc đã tổ chức nhiều cuộc thi và các hoạt động trong lĩnh vực: Văn hoá - nghệ thuật, kinh tế, thể thao v.v…
Năm 1993, trước yêu cầu to lớn về đào tạo, bồi dưỡng và phát huy mọi tiềm năng hùng hậu của thanh niên trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc; trên cơ sở đánh giá những cống hiến về nhiều mặt của thế hệ trẻ nước ta, song cũng nhìn nhận có một bộ phận thanh niên gặp khó khăn về mặt định hướng chính trị do kinh tế – xã hội nước ta chưa thoát ra khỏi khủng hoảng, hàng triệu thanh niên chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm, thu nhập thấp. Tình trạng thất học, mù chữ nhất là ở nông thôn, miền núi tăng lên. Một bộ phận thanh niên ít quan tâm sinh hoạt chính trị, coi nhẹ việc học tập và phát huy truyền thống cách mạng, thiếu niềm tin vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc, có xu hướng chạy theo lối sống không lành mạnh, coi thường các giá trị nhân văn, kỷ cương, đạo lý, mắc các tệ nạn xã hội. Không ít thanh niên mang tâm lý thụ động,ỷ lại từ thời bao cấp, tâm lý lao động và khả năng nghề nghiệp chưa chuyển kịp với kinh tế thị trường… Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng lần thứ 4 (khoá VII) đã ra Nghị quyết về thanh niên trong thời kỳ mới.
Từ chỗ xác định: Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một nhân tố quyết định thành bại của cách mạng. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu: Đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho thanh niên phấn đấu để hình thành một thế hệ mới có lý tưởng cao đẹp - có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính.
Để thực hiện quan điểm và mục tiêu trên, về mặt tổ chức, Nghị quyết đã chỉ rõ phải: Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh, củng cố tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn, đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong tổ chức của Hội LHTN Việt Nam, do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm lòng cốt. Các tổ chức Đảng chăm lo tổ chức Đoàn, xây dựng Mặt trận Thanh niên và đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng của thanh niên.
Về mặt Nhà nước cần lập cơ quan phụ trách công tác thanh niên của Chính phủ. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan chính quyền với các tổ chức thanh niên. Đầu tư cho việc nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vận động thanh thiếu niên trong các đối tượng, vùng miền khác nhau.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 04, các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp đã tăng cường các tổ chức của thanh niên. Đồng thời với sự hỗ trợ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và sự nỗ lực của bản thân, tổ chức Hội LHTN Việt Nam, đến giữa năm 1993, cả nước có 1.416.000 hội viên, 6013 chi hội, 860 Uỷ ban Hội cấp xã, 193 Uỷ ban Hội cấp huyện, 34 Uỷ ban Hội cấp tỉnh. Số hội viên của Hội tăng 106.000 so với tổng số hội viên cuối năm 1992. Hệ thống tổ chức Hội được củng cố từng bước, nhiều nơi, Hội có cán bộ chuyên trách và trụ sở làm việc, có ngân sách riêng. Tại một số tỉnh phía Bắc như Sơn La, Tuyên Quang, Hải Hưng, Hà Giang, Quảng Ninh, Hoà Bình, Lai Châu, Vĩnh Phú (cũ), Nghệ An, Yên Bái, Tổng công ty Hàng không Việt Nam... đã thành lập ban Vận động Hội, chuẩn bị cho ra đời tổ chức Hội ở các địa phương. Tại Thanh Hoá đã thành lập Uỷ ban Hội cấp tỉnh.
Nét mới của công tác xây dựng Hội là nhiều loại hình câu lạc bộ và chi hội mới ra đời, như: Hội du khảo trẻ (TP. Hồ Chí Minh), chi hội “Thanh niên giúp nhau lập nghiệp”, chi hội “Giúp bạn trên con đường mưu sinh lập nghiệp ” và các câu lạc bộ “gia đình trẻ” “phòng chống tệ nạn” v.v… Một số loại hình hoạt động của Hội đã lôi cuốn được sự tham gia của nhiều thanh niên các tôn giáo như: “Câu lạc bộ kỹ năng (Huế), đội công tác xã hội “nhân ái” (Đà Nẵng), “Người dẫn đường” ở Sông Bé.
Trong thời gian 6 tháng đầu năm 1993, Uỷ ban TW Hội LHTN Việt Nam đã tiến hành kiện toàn bộ máy thường trực và cơ quan lãnh đạo cấp Trung ương, đồng thời tổ chức các trại tập huấn khu vực cho 200 cán bộ Hội cơ sở. Công tác xây dựng phát triển Hội Sinh viên Việt Nam trong thời gian này cũng có nhiều chuyển biến. Trong cả nước tính đến tháng 6-1993 đã có 45/105 trường đại học và cao đẳng có tổ chức Hội với trên 5 vạn hội viên. Ngày 21 -11 -1993, Đại hội lần thứ V Hội Sinh viên Việt Nam đã khai mạc tại Hà Nội, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển, xây dựng tổ chức thành viên tập thể của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Điều đáng chú ý là tại một số trường phổ thông trung học ở Sóc Trăng, Ninh Bình, Đồng Nai, Cần Thơ, Thanh Hoá… bước đầu phát triển chi hội học sinh, tuy nhiên hoạt động và tổ chức của các chi hội này chưa xuất hiện những mô hình tốt để nhân rộng. Tính đến năm 1994 tổ chức Hội đã phát triển được gần 2 triệu hội viên, 37/53 tỉnh, thành có tổ chức Hội, với gần 6000 chi hội, đội, nhóm ở cơ sở, 127 Uỷ ban Hội cấp huyện.
Kết quả chung lớn nhất của công tác Hội trong thời gian qua là tổ chức hoạt động Hội từng bước đi vào ổn định, trở nên thực chất hơn, uy tín và ảnh hưởng của Hội trong xã hội và trong tầng lớp thanh niên được nâng lên. Sự gia tăng của thành viên tập thể của Hội là nét mới trong phát triển của tổ chức Hội.
Trong bài phát biểu của đồng chí Vũ Oanh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Công tác quần chúng Trung ương tại cuộc gặp mặt truyền thống các thế hệ cán bộ Hội LHTN Việt Nam, ngày 13 tháng 10 năm 1993 đã khẳng định:
“Tổ chức Hội ở nhiều tỉnh phía Nam được củng cố và phát huy vai trò của mình; hoạt động Hội ở phía Bắc đang được phục hồi, mở rộng. Hội LHTN đang dần dần mở rộng với quy mô hoạt động có tính toàn quốc. Nhiều cán bộ Hội gần gũi với thanh niên, chăm lo giải quyết những vấn đề bức xúc của thanh niên, trở thành người hướng dẫn tin cậy, người bạn gắn bó của thanh niên.
Điều đó chứng tỏ Hội LHTN Việt Nam đã có những đổi mới trong hoạt động và tổ chức của mình. Nhân dịp này, tôi xin hoan nghênh và biểu dương những thành tích mà Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã đạt được, khen ngợi sự cố gắng của cán bộ và toàn thể hội viên Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam”.
                                                                                                                                HẾT CHƯƠNG XIII

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
 Lắp đặt Thiết bị định vị xe tải adsun, thiết bị dạy nghề,Giá hộp đen ô tô tải định vị, tin tức kinh doanh, Máy chạy bộ điện, vai ao dai, tu dong cu, Can ho vincity quan 9

Huyện đoàn Vĩnh Linh

TIN MỚI