Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, sáng tạo, thi đua lập thân, khởi nghiệp, xung kích, tình nguyện xây dựng quê hương giàu đẹp - Tuổi trẻ Vĩnh Linh đoàn kết, thi đua rèn đức, học tập, lao động, sáng tạo, xung kích, tình nguyện xây dựng và bảo vệ quê hương                     
06:00 ICT Thứ hai, 23/10/2017

Trang nhất » TIN TỨC » Tin tức tổng hợp

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh cải cách hành chính và thu hút đầu tư, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội; phấn đấu đưa Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước

Thứ tư - 23/09/2015 15:45 | Đã xem: 274

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh cải cách hành chính và thu hút đầu tư, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội; phấn đấu đưa Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị khóa XV tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI) 

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 báo cáo chính trị với những nội dung sau: 
 
                                                Phần thứ nhất 

                      ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XV, NHIỆM KỲ 2010 – 2015                                                                                                                 

Năm năm qua, tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến mới, phức tạp; khó khăn, thách thức lớn hơn dự báo đầu nhiệm kỳ. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu đã có những tác động bất lợi đến đất nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng. Việc cắt giảm đầu tư công của Chính phủ và những hạn chế, yếu kém nội tại nền kinh tế của tỉnh đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV. 

Phát huy những thuận lợi cơ bản, những thành tựu đã đạt được trong các nhiệm kỳ trước; được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Trung ương Đảng, Chính phủ; sự giúp đỡ của các Bộ, ban, ngành Trung ương, các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Quảng Trị đã đoàn kết, nêu cao ý chí tự lực, tự cường; nỗ lực phấn đấu, đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng đảng và hệ thống chính trị. 

A. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 

I. NỀN KINH TẾ DUY TRÌ ĐƯỢC TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HỢP LÝ, CƠ CẤU CHUYỂN DỊCH ĐÚNG HƯỚNG VÀ TỪNG BƯỚC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ, SỨC CẠNH TRANH 

1. Nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý 


Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 7,4%/năm, cao hơn mức bình quân của cả nước. GRDP bình quân đầu người của tỉnh năm 2015 ước đạt 34 triệu đồng (1.600 USD), bằng 73,6% GDP bình quân đầu người của cả nước. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 2015 ước đạt trên 2.450 tỷ đồng, tăng bình quân 16,6%/năm. Thu nội địa tăng liên tục qua các năm, từ 748 tỷ đồng năm 2010 lên khoảng 1.350 tỷ đồng năm 2015. 

Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp phát triển ổn định và khá toàn diện; nông nghiệp và kinh tế nông thôn đang có những chuyển biến tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa. Tốc độ tăng trưởng giá trị ngành nông, lâm, ngư nghiệp đạt 3,7%/năm. 

Cơ cấu sản xuất nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi theo hướng đẩy mạnh khai thác tiềm năng lợi thế của từng vùng, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản trên một đơn vị diện tích. Hình thành một số vùng chuyên canh cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến và nhu cầu thị trường. Cơ giới hóa các khâu trong sản xuất được tăng cường. Sản lượng lương thực có hạt bình quân đạt gần 25 vạn tấn/năm. Diện tích cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu đến năm 2015 ước đạt 27.180 ha, đạt chỉ tiêu đề ra. 

Chăn nuôi có bước chuyển biến từ hình thức nhỏ lẻ, phân tán sang hình thức trang trại, gia trại theo hướng thâm canh bán công nghiệp gắn với an toàn dịch bệnh và bảo đảm vệ sinh môi trường. Chương trình cải tạo đàn bò, khôi phục và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm bản địa có giá trị cao đã mang lại hiệu quả kinh tế. Tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi trong tổng giá trị nông nghiệp tăng từ 20,4% năm 2010 lên 29,6% vào năm 2015. 

Diện tích trồng rừng tập trung từ năm 2011 đến năm 2015 ước đạt 29.705 ha, vượt chỉ tiêu đề ra; tỷ lệ độ che phủ rừng tăng từ 46,7% năm 2010 lên 49,5% năm 2015. Phát triển rừng bền vững, áp dụng chứng chỉ FSC đem lại hiệu quả cao. Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân 12,7%/năm. 

Thủy sản được chú trọng khai thác và phát huy tiềm năng, lợi thế gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, phát triển cả về nuôi trồng, đánh bắt, dịch vụ và hậu cần nghề cá. Năng lực và hiệu quả đánh bắt trung và xa bờ tăng. Tổng sản lượng thủy hải sản từ 24.668 tấn năm 2010 tăng lên 32.100 tấn năm 2015, đạt chỉ tiêu đề ra. Giá trị sản xuất thủy sản năm 2015 ước đạt 1.126,67 tỷ đồng, tăng bình quân 6,5%/năm. 

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt được kết quả khá; huy động được sự tham gia của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở và các nguồn lực trong nhân dân. Đã từng bước gắn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp với quy hoạch nông thôn mới, gắn xây dựng nông thôn mới với tái cơ cấu nông nghiệp. Ước đến cuối năm 2015, toàn tỉnh có 19 xã đạt tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, chiếm 16,2% tổng số xã. 

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng giá trị công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2011 - 2015 đạt 8,9%/năm. 

Công tác quy hoạch ngành, sản phẩm chủ yếu có nhiều tiến bộ, tạo cơ sở cho việc bố trí sản xuất và đầu tư hợp lý, hiệu quả hơn[1]. 

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2015 ước đạt 6.651 tỷ đồng, tăng 70% so với năm 2010, bình quân mỗi năm tăng 11,2%. Cơ cấu ngành công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác khoáng sản. Công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn có bước phát triển. 

Khu công nghiệp Nam Đông Hà, Khu công nghiệp Quán Ngang, Khu Kinh tế - Thương mại đặc biệt Lao Bảo và 13 cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được đầu tư kết cấu hạ tầng. Nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành, đưa vào sử dụng[2]. 

Đã hoàn thành quy hoạch chung xây dựng Khu Đông Nam, quy hoạch Trung tâm điện lực Quảng Trị, đang tích cực triển khai công tác chuẩn bị để sớm khởi công nhà máy nhiệt điện than 1.200MW. 

Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu của địa phương về các loại vật liệu xây dựng phần thô công trình; nhiều giải pháp, kỹ thuật mới trong xây dựng được áp dụng. Giá trị sản xuất xây dựng tăng bình quân 5%/năm. 

Thương mại - dịch vụ phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng giá trị thương mại - dịch vụ bình quân ước đạt 8,4%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng bình quân 18,9%/năm. Lưu thông hàng hóa thông suốt cơ bản đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa và mua sắm của nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. 

Hoạt động xuất nhập khẩu có tiến bộ, thị trường xuất khẩu được củng cố và mở rộng. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 63,4 triệu USD năm 2010 lên 210 triệu USD năm 2015, tăng bình quân 27%/năm, vượt chỉ tiêu đề ra. Cửa khẩu La Lay đã được nâng cấp trở thành Cửa khẩu Quốc tế. Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được chú trọng triển khai đạt kết quả bước đầu. Chỉ số giá tiêu dùng cơ bản được kiềm chế. 

Các dịch vụ bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, vận tải, kho bãi, quá cảnh hàng hóa, chăm sóc sức khoẻ, tư vấn, bảo hiểm,…phát triển cả số lượng và chất lượng. 

Đã hình thành một số sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh có thương hiệu như: du lịch các di tích lịch sử cách mạng, du lịch hoài niệm, tâm linh, du lịch mua sắm,... Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch được quan tâm thực hiện. Tổng lượng khách du lịch tăng dần qua các năm; doanh thu du lịch tăng bình quân 11,5%/năm. 

Hoạt động của hệ thống ngân hàng đã thực hiện nghiêm túc chính sách tiền tệ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Trung ương; phục vụ tốt nhu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân. Tổng dư nợ cho vay tăng bình quân 18,65%/năm. Tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp. Các ngành, địa phương đã quan tâm hơn đến việc hỗ trợ, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn cho các doanh nghiệp. 

Công tác quản lý, điều hành ngân sách được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định. Công tác thu ngân sách, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu được ngành Thuế, ngành Hải quan và các cơ quan, đơn vị, địa phương quan tâm thực hiện tốt. 

2. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch đúng hướng; các loại hình doanh nghiệp phát triển 

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 28,9% năm 2010 xuống 22,5% năm 2015; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 35,5% năm 2010 lên 37,9% năm 2015 và tỷ trọng thương mại - dịch vụ tăng từ 35,6% năm 2010 lên 39,6% năm 2015. Trong nội bộ các khu vực kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. 

Kinh tế vùng có sự chuyển biến gắn với phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng. Kinh tế vùng núi, vùng biển bãi ngang, vùng khó khăn được cải thiện hơn trước. 

Các loại hình doanh nghiệp phát triển cả về quy mô, số lượng, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đóng góp gần 40% GRDP. Các doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh quản lý tiếp tục được đổi mới, sắp xếp lại, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, giải quyết việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn[3]. Kinh tế tập thể có chuyển biến, nhiều hợp tác xã đã chuyển đổi sang hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012. Các loại hình tổ hợp tác phát triển[4]. 

Cơ cấu lao động làm việc trong các ngành kinh tế có bước dịch chuyển. Năm 2010, tỷ trọng lao động trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng là 15,2%, thương mại - dịch vụ là 23,1%, nông, lâm, ngư nghiệp là 61,7%; đến năm 2015, tỷ lệ tương ứng là 15,7%, 28,8%, 55,5%. 

3. Nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng, kết cấu hạ tầng đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển 

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 5 năm 2011-2015 ước đạt 41.258 tỷ đồng, gấp 2,35 lần so với 5 năm 2006-2010 và bằng 91,7% chỉ tiêu ĐHXV đề ra; trong đó vốn ngân sách nhà nước 12.835 tỷ đồng, chiếm 31,1% tổng vốn đầu tư xã hội; việc thu hút nguồn vốn nước ngoài đạt kết quả khá[5]. Công tác quản lý vốn đầu tư được tăng cường. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngày càng được nâng lên. 

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá toàn diện trên tất cả các vùng. Hạ tầng thương mại, dịch vụ tiếp tục được đầu tư[6]. Nhiều công trình giao thông đã được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới[7]. Tỷ lệ nhựa hóa tuyến đường tỉnh đạt 100%, tỷ lệ kiên cố hóa tuyến đường huyện đạt 52,2%, tỷ lệ kiên cố hóa tuyến đường thôn, xóm, bản, ngõ phố đạt 41,8%. Xây dựng mới và nâng cấp hơn 1.000 km đường giao thông nông thôn. 

Hệ thống các công trình thủy lợi được chú trọng đầu tư nâng cấp và xây dựng mới[8]. Hệ thống cấp nước sinh hoạt, xử lý nước thải, chất thải rắn tiếp tục được đầu tư[9]. 

Các trạm biến áp, mạng lưới điện trung, hạ áp, nhất là lưới điện nông thôn được chú trọng nâng cấp, xây dựng mới[10]. Đến cuối năm 2015, 100% thôn, bản có điện, 99,5% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia. 

Hạ tầng bưu chính viễn thông được đầu tư phát triển mạnh. Mạng điện thoại cố định, internet và di động đã phủ khắp trong toàn tỉnh[11]. 

Cổng thông tin điện tử của tỉnh đảm bảo cung cấp 100% các dịch vụ hành chính công trực tuyến, trên 50% số dịch vụ hành chính công đạt mức độ 3 và 4 đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở các sở, ngành, địa phương. 

Hệ thống trường học, bệnh viện, trạm y tế, công trình phục vụ hoạt động văn hoá, thể thao, ... tiếp tục được đầu tư đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân. 

Khuyến khích, thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng du lịch[12]. 

Hạ tầng đô thị được quan tâm đầu tư, đã cơ bản hình thành được 2 chuỗi đô thị theo các trục Bắc - Nam và Đông - Tây với 13 đô thị, tỷ lệ dân số thành thị chiếm 29,4% dân số toàn tỉnh. 

Thông qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và các chương trình, dự án khác; kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh khu vực nông thôn, đặc biệt là các xã vùng bãi ngang ven biển, các xã miền núi, xã đặc biệt khó khăn đã được tăng cường. Tạo sự phát triển hài hoà giữa đô thị và nông thôn. 

4. Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên 

Chất lượng nền kinh tế đang dần được cải thiện, năng suất lao động xã hội từ 40 triệu đồng/lao động năm 2011 tăng lên 57,3 triệu đồng/lao động năm 2015; nhiều tiêu chí về lĩnh vực văn hóa, xã hội cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Việc phát huy vai trò của doanh nghiệp trong kết nối và nâng cao chuỗi giá trị cho sản xuất hàng hóa trong tỉnh được quan tâm. Đây là các nhân tố quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển trong những năm tiếp theo. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh năm 2014 tuy sụt giảm so với năm 2011 nhưng một số chỉ số thành phần như chỉ số về hỗ trợ doanh nghiệp, chỉ số về lao động, chỉ số về bình đẳng trong kinh doanh… đã được cải thiện. 

II. LĨNH VỰC VĂN HOÁ, XÃ HỘI CÓ NHIỀU TIẾN BỘ; ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CỦA NHÂN DÂN TIẾP TỤC ĐƯỢC CẢI THIỆN 

1. Sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể thao chuyển biến tích cực 


Nhiệm vụ phát triển văn hóa, thể thao, thông tin, truyền thông gắn với mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện đã được chú trọng, góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần và thể chất của nhân dân. Nhiều hoạt động lễ hội của Quảng Trị đã và đang hình thành, tạo nét đặc trưng riêng; trong đó, có những lễ hội như: “Thống nhất non sông (30/4)”, “Nhịp cầu Xuyên Á”, “Hoa đăng trên dòng Thạch Hãn”... để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế. Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng phát triển sâu rộng trong nhân dân. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang được nhân dân đồng tình hưởng ứng. 

Hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao từ cấp tỉnh đến cơ sở đã được quan tâm đầu tư xây dựng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển[13]. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản vật thể, phi vật thể được chú trọng. Các di tích, danh thắng quan trọng của tỉnh tiếp tục được đầu tư tôn tạo, khai thác và phát huy giá trị. 

Hệ thống thông tin, truyền thông đã phát huy hiệu quả trong công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu về thông tin của người dân. Quy mô, chất lượng các loại hình báo chí được nâng lên, chương trình nội dung phong phú hơn. 

2. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có nhiều tiến bộ 

Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng lên. Quy mô mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học được quan tâm đầu tư. Công tác chuyển đổi và sắp xếp lại các loại hình trường lớp được thực hiện tích cực. 

Công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS được duy trì và củng cố khá vững chắc. Năm 2013, Quảng Trị được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, vượt trước 2 năm so với kế hoạch toàn quốc. Toàn tỉnh có 28,4% xã, phường, thị trấn (40/141) đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học. Tính đến năm 2015 có 100% giáo viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn, trong đó có 63% trên chuẩn. 

Công tác đào tạo nghề được triển khai tích cực, góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đã và đang hình thành, phát triển. Công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được duy trì có hiệu quả. 

3. Chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân được nâng lên; công tác dân số, gia đình và trẻ em đạt nhiều kết quả 

Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế được triển khai đồng bộ và đạt kết quả khá. Đội ngũ cán bộ y tế từng bước nâng cao cả về số lượng và chất lượng[14]. Cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân được củng cố và phát triển, nhiều công trình quan trọng được đầu tư xây dựng[15]. Nhiều kỹ thuật mới, hiện đại về khám, chữa bệnh được triển khai ứng dụng. Đến năm 2015, toàn tỉnh có 1.673 giường bệnh, đạt tỷ lệ 27 giường/1 vạn dân, có trên 70% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. 

Công tác y tế dự phòng được triển khai thực hiện tốt, kịp thời kiểm soát và khống chế dịch bệnh. Chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sức khoẻ sinh sản có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 19,5% năm 2010 xuống 15% năm 2015. Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh, mô hình làng không có người sinh con thứ 3 trở lên tiếp tục được triển khai nhân rộng. Các lĩnh vực bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ, người cao tuổi … được quan tâm thực hiện. Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đạt nhiều kết quả, nhất là đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. 

4. Thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo và an sinh xã hội 

Công tác giảm nghèo được chú trọng thực hiện có hiệu quả, an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm; đã triển khai khá đồng bộ các chính sách hỗ trợ cho người nghèo như: đầu tư hạ tầng thiết yếu, nước sinh hoạt, nhà ở, đất sản xuất, bảo hiểm y tế, học phí [16], vay vốn phát triển sản xuất… Thu hút nhiều nguồn lực và thực hiện nhiều giải pháp để giảm nghèo một cách bền vững, đặc biệt là vùng miền núi và vùng biển bãi ngang. Chú trọng phát triển các mô hình sản xuất gắn với mục tiêu giảm nghèo và giải quyết việc làm. Tỷlệhộ nghèo giảm từ19,7% đầu năm 2011 dự kiến xuống còn 6,9% vào cuối năm 2015, bình quân mỗi năm giảm 2,58%; riêng huyện Đakrông giảm 5,70%/năm, vượt chỉ tiêu đề ra. 

Quan tâm chăm lo và thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với người có công và đối tượng chính sách xã hội. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư xây dựng, tôn tạo, nâng cấp các nghĩa trang liệt sĩ, các công trình tri ân và chăm sóc người có công với nước. Việc đón tiếp các đoàn cựu chiến binh về thăm chiến trường xưa, đón tiếp các thân nhân liệt sĩ của cả nước về Quảng Trị được thực hiện chu đáo, nghĩa tình. Hoạt động nhân đạo, từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người tàn tật, người neo đơn không nơi nương tựa đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng và đạt nhiều kết quả. 

Công tác dạy nghề có chuyển biến tích cực, từng bước gắn với sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập và giảm nghèo. Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 33% năm 2010 tăng lên 43,5% năm 2015; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 24,4% năm 2010 lên 32,8% năm 2015, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 26,2%. Trong 5 năm 2011 - 2015, toàn tỉnh có trên 48.900 lao động được tạo việc làm mới. 

5. Hoạt động khoa học công nghệ được đổi mới, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường 

Hoạt động khoa học và công nghệ được đổi mới theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiều đề tài, dự án khoa học công nghệ được ứng dụng có hiệu quả tại địa phương. Chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trên địa bàn tỉnh Quảng Trị bước đầu phát huy hiệu quả. Hoạt động khoa học công nghệ đã từng bước gắn với sản xuất và hướng đến bảo vệ môi trường. Việc xây dựng thương hiệu, xác lập chỉ dẫn địa lý cho một số sản phẩm hàng hóa của tỉnh được quan tâm thực hiện. 

Công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, khoáng sản phục vụ việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản có bước tiến bộ. Hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 - 2015 của tỉnh. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đạt trên 92%; công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, cập nhật hồ sơ địa chính, chỉnh lý biến động về đất đai đã được triển khai tích cực. Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng; quản lý tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, quản lý biển, đảo, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu có chuyển biến tích cực. Năm 2015, tỷ lệ dân số thành thị sử dụng nước sạch đạt 86%, sử dụng nước hợp vệ sinh ở nông thôn đạt 80%. 

Đã quy hoạch và đầu tư xây dựng một số công trình phòng, tránh thiên tai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Xây dựng kế hoạch hành động thực hiện chiến lược khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. 

III. CHÍNH TRỊ ỔN ĐỊNH, QUỐC PHÒNG - AN NINH ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG, TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI ĐẢM BẢO 

Quốc phòng - an ninh được tăng cường. Thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và của Chính phủ về nhiệm vụ quốc phòng - an ninh; đặc biệt là Nghị quyết số 28-NQ/ TW của Hội nghị Trung ương 8 (khoá XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới” và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới”. 

Nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, biển đảo quốc gia, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và an ninh trật tự được các cấp, các ngành quan tâm tập trung chỉ đạo. Công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên được chú trọng. Triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Dân quân - Tự vệ, Luật Giáo dục Quốc phòng - An ninh. Hàng năm, đã chỉ đạo tổ chức tốt các cuộc diễn tập; hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân, đảm bảo số lượng, nâng cao chất lượng. Lực lượng vũ trang địa phương thường xuyên được củng cố, kiện toàn, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu; tham gia tích cực, có hiệu quả vào công tác phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai; thực hiện tốt các chính sách hậu phương quân đội. 

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, cột mốc và bảo vệ an ninh trật tự thôn, bản” thực hiện đạt kết quả tốt. Lực lượng vũ trang nắm chắc tình hình, âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động phá hoại nội bộ, tác động chuyển hóa, âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, các hoạt động lợi dụng tự do dân chủ, tôn giáo, nhân quyền. Đã huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn dân tham gia tích cực vào các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội; bảo vệ an toàn tuyệt đối các hoạt động chính trị - xã hội, các sự kiện lớn, các ngày lễ, tết trên địa bàn. Công tác phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ các mục tiêu; công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông có nhiều tiến bộ. 

Đã đầu tư một số công trình quân sự quan trọng phục vụ nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Tăng cường hợp tác, phối hợp với các tỉnh của nước bạn Lào có chung đường biên giới trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. 

IV. HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP ĐƯỢC NÂNG LÊN, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI ĐƯỢC CHÚ TRỌNG 

1. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội, HĐND được nâng lên 


Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh thể hiện ngày càng tốt hơn chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của mình, của đại biểu Quốc hội, góp phần đưa những văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành đi vào cuộc sống. Hoạt động của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh thể hiện rõ nét nhất trên các mặt: công tác tham gia xây dựng pháp luật và hoạt động giám sát. 

Hội đồng nhân dân tỉnh đã phát huy vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định, giám sát các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và các vấn đề quan trọng của địa phương. Chất lượng hoạt động các kỳ họp được nâng lên. Các nghị quyết được ban hành đúng luật và phù hợp với thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Các chính sách địa phương do Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành đã góp phần giải quyết kịp thời những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị, Hội đồng nhân dân các xã, thị trấn phát huy hiệu quả. 

2. Hiệu lực, hiệu quả điều hành của UBND các cấp được tăng cường 

Bộ máy chính quyền các cấp được củng cố, kiện toàn, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong công tác chỉ đạo, điều hành. Công tác phân công, phân cấp trong quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh được chú trọng. Kỷ cương quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường. 

UBND tỉnh đã ban hành nhiều đề án, kế hoạch, chương trình hành động nhằm cụ thể hóa và triển khai thực hiện kịp thời các nghị quyết của Chính phủ, của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh. Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện của UBND các cấp không ngừng được đổi mới, linh hoạt và hiệu quả; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu tiếp tục được đề cao. Công tác xây dựng chính quyền có nhiều chuyển biến rõ rệt. Hoạt động của bộ máy chính quyền và các cơ quan nhà nước ngày càng phát huy tính dân chủ. 

Đã xây dựng và triển khai thực hiện Đề án một số chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút và tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh giai đoạn 2013 - 2020, bước đầu thu được kết quả tốt. 

3. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được triển khai thực hiện tích cực 

Công tác cải cách hành chính được thực hiện đồng bộ từ cải cách thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công... chỉ số quản trị và hành chính công của tỉnh (PAPI) liên tục được cải thiện[17]. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông[18] tại các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh, gắn với rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện hành, loại bỏ những thủ tục không cần thiết. Mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công và hành chính công được nâng lên. 

Công tác thanh tra, giám sát được tăng cường và xử lý nghiêm các vi phạm. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo, giải quyết; đã xử lý dứt điểm nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài. 

4. Hoạt động đối ngoại được đẩy mạnh, chủ động mở rộng quan hệ hợp tác trong khu vực và quốc tế 

Công tác đối ngoại, vận động, xúc tiến đầu tư và xây dựng hình ảnh, vị thế của tỉnh đạt nhiều kết quả. Đã tổ chức thành công nhiều sự kiện, diễn đàn quan trọng, thu hút sự quan tâm của các tổ chức quốc tế. 

Công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước, đối ngoại nhân dân được tăng cường và phát huy hiệu quả. Quan hệ hợp tác hữu nghị giữa tỉnh Quảng Trị với các tổ chức quốc tế tiếp tục được tăng cường. Hiện có trên 20 đối tác là các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài và 36 tổ chức phi chính phủ đã và đang hỗ trợ tỉnh trong phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh. 

Quan hệ hợp tác hữu nghị đặc biệt với các tỉnh Salavan và Savannakhet (Lào) được củng cố và tăng cường; mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa với các tỉnh trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây. Hoàn thành công tác tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào trên tuyến biên giới của tỉnh[19]. Thực hiện tốt công tác người Việt Nam ở nước ngoài. 

V. HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CÓ NHIỀU ĐỔI MỚI, KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TIẾP TỤC ĐƯỢC CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG, GÓP PHẦN TÍCH CỰC THỰC HIỆN THẮNG LỢI NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ 

Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội được kiện toàn, củng cố, đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Vận động, tập hợp, thu hút các đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ môi trường, gắn kết các tầng lớp nhân dân ở từng địa bàn dân cư, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động nhân đạo, từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế -xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh. 

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong tỉnh tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội, thể hiện rõ hơn tính chất liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo. Trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân được đề cao, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội bước đầu được triển khai có kết quả. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, các phong trào thi đua yêu nước có bước phát triển và đi vào chiều sâu. 

Các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng tăng cường phát triển tổ chức và lực lượng, củng cố và nâng cao chất lượng, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hướng về cơ sở, hướng dẫn, vận động, thu hút đoàn viên, hội viên thực hiện nhiều phong trào thi đua, tiêu biểu là phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Xung kích phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, “Tuổi trẻ Quảng Trị làm theo lời Bác”, phong trào “Nông dân sản xuất giỏi”, “Cựu chiến binh gương mẫu”... và nhiều phong trào quần chúng khác. Tích cực tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xoá đói, giảm nghèo vươn lên làm giàu, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, nhất là những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đáp ứng ngày càng tốt hơn nguyện vọng và lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân. Tăng cường đoàn kết, tập hợp, vận động đội ngũ doanh nhân, trí thức tham gia có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Kết nối, động viên đồng bào Quảng Trị ở nước ngoài và các tỉnh, thành phố trong nước hướng về quê hương, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng Quảng Trị ngày càng phát triển. 

Công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ, công tác dân tộc, tôn giáo được chú trọng thực hiện. 

VI. CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CÓ SỰ CHUYỂN BIẾN TÍCH CỰC. NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN ĐƯỢC NÂNG LÊN 

Các cấp ủy đảng từ tỉnh đến cơ sở đã cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến công tác xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và các nghị quyết chuyên đề của Trung ương, của Tỉnh ủy để triển khai toàn diện các mặt công tác xây dựng Đảng, đạt được nhiều kết quả quan trọng. 

1- Công tác chính trị, tư tưởng được tăng cường 

Cấp ủy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng. Các chủ trương, chính sách của Đảng được quán triệt nghiêm túc và cụ thể hóa bằng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện phù hợp; luôn coi trọng công tác tổng kết thực tiễn để đề ra các chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh sát với tình hình của địa phương. Vai trò của các cấp ủy đảng trong chỉ đạo triển khai và kiểm tra, giám sát thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng được phát huy. Nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ chủ chốt, cán bộ thuộc diện quy hoạch đạt yêu cầu đề ra, trình độ lý luận chính trị của cán bộ được nâng lên. 

Công tác tuyên truyền hướng mạnh về cơ sở. Thực hiện tốt việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới; đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, các luận điệu xuyên tạc và hành động xâm phạm chủ quyền biển, đảo; cung cấp và định hướng thông tin trước những diễn biến phức tạp, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. 

Công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội được chú trọng. Công tác biên soạn Lịch sử Đảng bộ địa phương gắn với giáo dục truyền thống cách mạng quê hương được đẩy mạnh. 

Chỉ thị 03 -CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai sâu rộng, từng bước trở thành việc làm thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Nhiều địa phương, đơn vị đã có những cách làm hay, sáng tạo trong việc cụ thể hóa các chủ đề, chuyên đề hàng năm, đem lại kết quả thiết thực trong “làm theo” tấm gương đạo đức của Bác. Gắn thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên. Ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức lối sống, tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân của cán bộ, đảng viên được nâng lên, góp phần ngăn chặn những biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, củng cố niềm tin trong nhân dân. 

Các cơ quan, đơn vị chuyên trách về công tác tư tưởng- văn hóa không ngừng củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đáp ứng vai trò nòng cốt trong tham mưu, chỉ đạo trên lĩnh vực chính trị tư tưởng. Các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản đã bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, có sự đổi mới nội dung và hình thức, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ tuyên truyền, định hướng thông tin và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. 

Công tác chính trị tư tưởng đã góp phần xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng; giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo sự đồng thuận trong xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, đối ngoại của địa phương. 

2. Công tác tổ chức, cán bộ có chuyển biến tích cực 

Cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cấp, các ngành đã quán triệt và chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức cán bộ. Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị các cấp. Thành lập Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh, Ban Nội chính Tỉnh ủy; kiện toàn một số đảng đoàn, ban cán sự đảng, ban chỉ đạo, bộ phận giúp việc của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ngày càng chặt chẽ, chất lượng và hiệu quả hoạt động được nâng lên. 

Lãnh đạo, chỉ đạo tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp; thực hiện nghiêm túc việc thí điểm không tổ chức HĐND, thí điểm bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND[20] ở một số địa phương trong tỉnh. 

Đã thể chế hóa, cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương, chính sách của Trung ương về công tác cán bộ; ban hành các quy chế, quy định, đề án cụ thể để chỉ đạo tổ chức thực hiện, đảm bảo nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. 

Tiến hành tương đối đồng bộ các khâu quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách cán bộ. 

Công tác quy hoạch đi vào nền nếp, chất lượng được nâng lên, gắn công tác quy hoạch với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã chú trọng và làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về lý luận chính trị - hành chính, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, cập nhật kiến thức mới đối với đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng các chức danh quy hoạch cho các nhiệm kỳ đến. Tích cực thực hiện luân chuyển cán bộ; đã luân chuyển cán bộ từ khối nhà nước qua công tác ở khối đảng, mặt trận và các đoàn thể; điều động, luân chuyển một số cán bộ trẻ ở các phòng, ban cấp sở về giữ các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp xã, cấp huyện; thực hiện bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện không phải là người địa phương. Công tác cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số được các cấp ủy đảng chú trọng hơn. Đội ngũ cán bộ ở các cấp, các ngành có bước trưởng thành; chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở được nâng lên. 

Cấp ủy các cấp đã chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ. Tập trung củng cố tổ chức đảng ở những địa bàn trọng yếu, khó khăn, vùng sâu, vùng xa, những cơ sở còn yếu kém. Việc kết nạp đảng viên ở thôn, bản chưa có đảng viên, chưa có tổ chức đảng đạt kết quả tích cực[21]. Phát triển đảng viên và tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt TSVM vượt chỉ tiêu Đại hội XV đề ra[22]. 

Các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai, thực hiện nghiêm túc các quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tập trung chỉ đạo giải quyết những vấn đề về lịch sử chính trị; chú trọng nắm tình hình và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. Thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng cán bộ, đảng viên. Việc thẩm tra, xác minh, kết luận và thẩm định về tiêu chuẩn chính trị được tiến hành kịp thời. 

3- Công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, có hiệu lực, hiệu quả hơn 

Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT các cấp trong tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, đi vào nền nếp, thiết thực và hiệu quả hơn, phục vụ tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng. Số tổ chức đảng, đảng viên được kiểm tra, giám sát tăng nhiều so với nhiệm kỳ trước[23], đã gắn kiểm tra, giám sát tổ chức đảng với kiểm tra, giám sát đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát bao quát các lĩnh vực, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm hơn. Đã tổ chức một số cuộc kiểm tra, giám sát chuyên đề[24] với quy mô lớn, giúp cho việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy toàn diện, đồng bộ, sâu sắc hơn. Tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát được coi trọng. Sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác kiểm tra, giám sát, xử lý, giải quyết vụ việc ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả. 

UBKT cấp ủy các cấp đã thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng. Việc xem xét thi hành kỷ luật trong Đảng nghiêm minh, chính xác, kịp thời hơn, có tác dụng cảnh báo, răn đe, vì vậy số tổ chức đảng và đảng viên bị xử lý kỷ luật giảm so với nhiệm kỳ trước[25]. Nhiều tổ chức đảng đã gắn việc xem xét, xử lý kỷ luật với công tác tư tưởng và tổ chức, góp phần quan trọng trong việc ngăn ngừa vi phạm, tạo sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, hạn chế khiếu nại kỷ luật. Đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến tổ chức đảng, đảng viên được xem xét, giải quyết kịp thời, đúng quy định. 

Cán bộ UBKT các cấp được kiện toàn, củng cố; thực hiện tốt chủ trương luân chuyển cán bộ UBKT cấp ủy cấp trên về tham gia UBKT cấp ủy cấp dưới để rèn luyện, tạo nguồn; chất lượng cán bộ kiểm tra từng bước được nâng lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. 

4. Công tác dân vận của cấp ủy đảng chuyển biến tiến bộ 

Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy, tổ chức đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận của hệ thống chính trị; công tác dân tộc, công tác tôn giáo, công tác dân vận chính quyền được tăng cường. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được chú trọng. 

Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận được tăng cường và đổi mới; công tác dân vận của hệ thống chính trị, các lực lượng vũ trang và các hội quần chúng có sự chuyển biến tích cực; phong trào thi đua “Dân vận khéo” tiếp tục được chỉ đạo thực hiện hiệu quả trên các lĩnh vực đời sống xã hội; dân chủ trong nhân dân được phát huy và mở rộng, những bức xúc và nguyện vọng, lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân được chỉ đạo giải quyết kịp thời, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, củng cố lòng tin trong nhân dân đối với Đảng, với chế độ, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân được tăng cường. 

5. Công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng được tăng cường 

Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã đề ra nhiều chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo công tác nội chính và phòng chống tham nhũng. Chú trọng đi sâu lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, chăm lo xây dựng Đảng, đội ngũ cán bộ chủ chốt các cơ quan nội chính. 

Từng bước kiện toàn tổ chức, cán bộ và nâng cao chất lượng hoạt động các cơ quan tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/ TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. 

Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các hoạt động bổ trợ tư pháp được nâng lên. Công tác theo dõi thi hành pháp luật và pháp chế ngày càng đi vào nền nếp. Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý được quan tâm, đạt nhiều kết quả. 

Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có chuyển biến tích cực trên cả ba mặt: tuyên truyền giáo dục, phòng ngừa và phát hiện, xử lý. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, thiết lập các cơ chế, điều kiện hạn chế hành vi tham nhũng và công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử giám sát cộng đồng… về tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh, góp phần ngăn chặn các hành vi tham nhũng, lãng phí, nhất là các lĩnh vực về quản lý đất đai, ngân sách, xây dựng cơ bản,... Việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản đạt kết quả bước đầu. 

6. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng tiếp tục được đổi mới 

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, các cấp ủy từ tỉnh đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo và từng bước thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, trọng tâm là phát huy tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng. Đã xây dựng, ban hành các quy chế, quy định, xác định rõ nguyên tắc, cơ chế, mối quan hệ trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị, làm cơ sở để đảng bộ, chính quyền và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp hoạt động chặt chẽ, nhịp nhàng, không chồng chéo, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng tổ chức, giúp cho tổ chức đảng nâng cao được năng lực lãnh đạo với phương châm “không buông lỏng nhưng không bao biện, làm thay”, đồng thời phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. 

Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nhất là trong việc bàn và quyết định các chủ trương, nghị quyết, quyết định của cấp ủy. Phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy được cải tiến, đổi mới; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát, sâu sát cơ sở, gần dân. 

7. Lãnh đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đạt kết quả bước đầu quan trọng 

Các cấp ủy, địa phương, đơn vị trong tỉnh đã thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo 3 nội dung của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm, những biểu hiện cụ thể của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, xác định những việc cần làm, đề xuất các giải pháp khắc phục, sửa chữa những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Sau kiểm điểm, tự phê bình và phê bình hầu hết các vấn đề dư luận quan tâm đã được khắc phục. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã chú trọng hơn việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, đổi mới lề lối làm việc; giữ gìn đạo đức, lối sống gắn với thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân ở các cấp, kết hợp với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy đảng, thanh tra của Nhà nước, công tác điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án của các ngành chức năng, đã có tác dụng cảnh báo, răn đe, cảnh tỉnh và phòng ngừa sai phạm, siết lại kỷ cương, kỷ luật, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, đấu tranh, ngăn chặn một bước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Các cấp ủy đã tiến hành kiểm điểm, xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân có vi phạm, khuyết điểm. 

Việc triển khai các nhóm giải pháp Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đề ra, đã tạo được một số chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác chính trị tư tưởng, tổ chức cán bộ, kiểm tra giám sát..., góp phần củng cố sự đoàn kết, nâng cao sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức đảng, chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường. 

B. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM 

I. VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, QUỐC PHÒNG - AN NINH 

1. Về kinh tế - xã hội 


- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt kế hoạch đề ra (bình quân 5 năm 2011-2015 đạt 7,4%; chỉ tiêu Đại hội XV là 12-13%). Chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm; năng suất lao động thấp. Tỉnh chưa hình thành được vùng kinh tế động lực, chưa có nhiều dự án sản xuất kinh doanh quy mô lớn nên chưa tạo được bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội. Năng lực cạnh tranh còn hạn chế trên cả 3 cấp độ: Nhà nước, doanh nghiệp và sản phẩm. 

- Quy mô nền kinh tế nhỏ (đứng thứ 55/63 tỉnh, thành của cả nước); đời sống nhân dân một số vùng còn khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp so với cả nước và các tỉnh trong khu vực (đứng thứ 43/63 tỉnh, thành của cả nước và đứng thứ 11/14 trong các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung) là những thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của tỉnh trong 5 năm qua cũng như trong giai đoạn tới. 

- Cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn chuyển dịch còn chậm, phương thức sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán; tỷ trọng chăn nuôi trong ngành nông nghiệp còn thấp, chất lượng một số vật nuôi chủ lực chậm được cải thiện[26], giá trị gia tăng trong sản xuất chưa cao. Việc ứng dụng và triển khai công nghệ cao vào sản xuất còn hạn chế. Hoạt động kinh tế tập thể nhìn chung kém hiệu quả; kinh tế tư nhân quy mô còn nhỏ lẻ. Các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp còn thiếu và chưa được triển khai, thực hiện rộng rãi. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới chưa đạt kế hoạch đề ra. 

- Tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp - xây dựng đạt thấp so với kế hoạch; một số khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chưa được các ngành chức năng quan tâm giải quyết kịp thời, đúng mức. Phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực tài chính, năng lực quản trị hạn chế; công nghệ thiết bị nhìn chung còn lạc hậu, chậm đổi mới; thiếu sự liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp. Tiến độ xây dựng kết cấu hạ tầng khu, cụm công nghiệp, làng nghề còn chậm. 

- Tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn hạn chế. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thấp so với nhu cầu chi; nguồn thu nhỏ, thiếu ổn định ảnh hưởng đến quá trình quản lý, điều hành ngân sách và thực hiện các chính sách phát triển của địa phương. Thu hút đầu tư và huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chưa đạt kế hoạch. Một số dự án quan trọng của tỉnh đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XV chưa được triển khai thực hiện[27]. Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Trung ương nên thiếu chủ động, chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 

- Một số vấn đề xã hội đang đặt ra nhiều thách thức. Đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu xã hội. Số lượng học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học chưa có việc làm ngày càng tăng; công tác giảm nghèo thiếu bền vững, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số, nguy cơ tái nghèo còn cao. Điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân có mặt còn hạn chế, đời sống dân cư ở một số vùng nông thôn và miền núi còn khó khăn, chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp nhân dân còn khá lớn. Tai, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn có hiệu quả. 

- Ô nhiễm môi trường còn gia tăng ở một số nơi; việc thu gom chất thải rắn chưa đạt yêu cầu. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép còn diễn biến phức tạp. Hạ tầng kỹ thuật đô thị, các khu, cụm công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt là về thoát nước và xử lý nước thải. Các khu, cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn. 

2. Về quốc phòng, an ninh 

Tình hình quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh vẫn còn tiềm ẩn một số vấn đề phức tạp; việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân có mặt còn hạn chế. Công tác dự báo, nắm tình hình ở một số địa phương, đơn vị chưa kịp thời, chính xác, giải quyết một số tình huống phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng, an ninh còn lúng túng. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng khu vực phòng thủ, diễn tập bảo vệ trị an, thực hành phương châm “4 tại chỗ” trong phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, xây dựng cơ sở, cụm an toàn làm chủ và an ninh trật tự vẫn còn một số hạn chế. Công tác xây dựng lực lượng vũ trang, nhất là lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, công an viên chưa được quan tâm đúng mức. Một số tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn có hiệu quả. 

II. VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 

1- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế; nội dung, phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng trên một số mặt chậm đổi mới 


Công tác chính trị, tư tưởng có mặt chưa thật sự chủ động, tính chiến đấu, tính thuyết phục chưa cao. Một số cấp ủy, chính quyền, cơ quan nhà nước chưa nhận thức đầy đủ vai trò công tác chính trị, tư tưởng. Quán triệt và triển khai thực hiện một số chủ trương của cấp ủy có lúc còn chưa sâu, thiếu liên hệ thực tiễn. Nắm bắt tình hình, định hướng dư luận ở một số địa phương, đơn vị có việc, có lúc chưa kịp thời. 

Thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh một số nơi còn hình thức, kết quả “làm theo” chưa toàn diện. Một số cấp ủy, chính quyền, lãnh đạo đơn vị còn chưa chủ động, sáng tạo và thiếu tích cực trong triển khai thực hiện, chưa xem đây là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên, còn thiếu kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện. Một số cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu gương mẫu, thiếu trách nhiệm, có biểu hiện quan liêu, xa dân, vi phạm khuyết điểm. 

Tổ chức bộ máy của một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự tinh gọn, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ của một số tổ chức trong hệ thống chính trị vẫn còn chồng chéo, trùng lắp, quy chế làm việc thực hiện chưa tốt, thiếu rà soát, bổ sung kịp thời. 

Việc đổi mới một số mặt trong công tác cán bộ còn chậm, thiếu cơ chế cụ thể để thực sự phát huy dân chủ; tính dài hạn trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, các lĩnh vực chưa rõ nét. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu khó, có nơi, có lúc còn hình thức, cảm tính; quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng còn một số mặt hạn chế; luân chuyển cán bộ chưa mạnh và chưa đồng bộ giữa các cấp, các ngành; việc đề bạt, bổ nhiệm một số trường hợp cán bộ chưa đảm bảo quy trình, quy định và thiếu kịp thời. Công tác giám sát, quản lý cán bộ các cấp nhiều mặt còn hạn chế. Công tác cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc thiểu số tuy đã được quan tâm nhưng kết quả chưa đạt yêu cầu. Chính sách cán bộ có mặt còn bất cập, chưa tạo động lực thúc đẩy sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ. 

Vai trò hạt nhân chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ở một số đảng bộ, chi bộ bộc lộ nhiều hạn chế. Nội dung sinh hoạt chi bộ, nhất là loại hình cơ quan, doanh nghiệp chậm đổi mới, tính lãnh đạo, tính chiến đấu chưa cao. Công tác phát triển tổ chức đảng, đảng viên ở các doanh nghiệp tư nhân còn khó khăn. Quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên ở một số nơi chưa được quan tâm thường xuyên; tự phê bình và phê bình, kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm. Việc đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và cán bộ, đảng viên hàng năm có nơi chưa phản ánh đúng thực chất. 

Một số cấp ủy đảng chưa làm tốt việc kết luận, sử dụng cán bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị, chưa quan tâm đúng mức vấn đề chính trị hiện nay. Việc quản lý cán bộ, đảng viên có liên quan với nước ngoài (con lấy vợ hoặc chồng người nước ngoài,...) thiếu chặt chẽ. Cán bộ, đảng viên có liên quan với người nước ngoài chưa tự giác khai báo với tổ chức theo quy định. 

Trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ, còn hạn chế về kiến thức, năng lực thực tiễn, tinh thần phục vụ, cống hiến; còn thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi và các chuyên gia đầu ngành có khả năng dự báo, xử lý tốt những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. 

Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đáp ứng tốt yêu cầu của công tác xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay. Một số cấp ủy, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, nhiều chi bộ thực hiện chưa tốt công tác kiểm tra, giám sát. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát chưa cao, có nơi còn hình thức; việc kiểm tra, giám sát đảng viên, cán bộ chủ chốt còn ít. Phát hiện dấu hiệu vi phạm qua giám sát còn hạn chế. Một số nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, vi phạm quy chế làm việc nhưng việc xem xét, xử lý chưa kiên quyết. Đảng viên vi phạm bị kỷ luật tuy có giảm nhưng tỷ lệ vẫn còn cao. Có nơi xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm không kịp thời hoặc không đúng mức làm hạn chế tính răn đe, giáo dục. Cán bộ kiểm tra cơ sở đều kiêm nhiệm; trình độ, năng lực của một số cán bộ kiểm tra còn hạn chế. 

Công tác phòng, chống tham nhũng còn nhiều bất cập. Vai trò, trách nhiệm của nhiều cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác phòng, chống tham nhũng chưa cao. Thiếu cơ chế để kiểm soát về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan chuyên trách về chống tham nhũng còn hạn chế; tiêu cực, tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi. 

Công tác dân vận có mặt chậm đổi mới, hiệu quả chưa cao. Một số cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng, triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận còn chưa kịp thời, hiệu quả còn thấp; công tác dân vận chính quyền chưa rõ nét; công tác dân tộc, tôn giáo ở một số địa phương chưa được chú trọng; xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhiều nơi còn hình thức. 

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân còn chậm. Việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm chỉ đạo giải quyết công việc cụ thể của một số cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy còn lúng túng. Thực hiện cải cách hành chính trong đảng còn chậm. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy về phát triển kinh tế chưa được cụ thể hóa, hiệu quả còn thấp. 

Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” tuy có nhiều cố gắng nhưng chưa đạt kết quả như mong đợi. Trong góp ý xây dựng vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm. Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp vẫn chưa làm rõ thực chất, mức độ của tình hình, chưa chỉ ra được địa chỉ cụ thể và trách nhiệm của tập thể, cá nhân vi phạm. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch khắc phục khuyết điểm ở một số nơi chưa đồng bộ, thiếu quyết liệt và thường xuyên. Việc kiểm điểm theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) gắn với kiểm điểm cuối năm ở không ít tổ chức đảng chưa thực hiện tốt, tính đấu tranh chưa cao. Việc xem xét, xử lý một số trường hợp vi phạm khuyết điểm chưa kịp thời, nghiêm khắc. 

2. Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân có mặt chưa đáp ứng yêu cầu 

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có lúc, có nơi hoạt động còn mang tính hình thức, nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới. Tổ chức Mặt trận và đoàn thể nhân dân ở một số cơ sở còn yếu, phối hợp thiếu chặt chẽ, chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân; năng lực tập hợp, vận động quần chúng còn hạn chế. Việc triển khai một số chủ trương, chính sách của Đảng, chương trình hành động của cấp ủy, chính quyền về công tác dân vận, về đại đoàn kết toàn dân tộc chưa sâu sát, kịp thời, kém hiệu quả. Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa mạnh. 

3. Hoạt động của các cơ quan nhà nước còn một số hạn chế 

Các hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, các ban của HĐND tỉnh trên một số lĩnh vực chưa toàn diện và thiếu chiều sâu. Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là Hội đồng nhân dân cấp xã còn hình thức, thực hiện chức năng giám sát còn lúng túng. 

Tổ chức bộ máy của một số cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp chưa sắp xếp tinh gọn. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có mặt còn hạn chế. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức chất lượng chưa cao, có biểu hiện chạy theo bằng cấp. Cải cách hành chính nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, quy trình thủ tục hành chính một số khâu còn rườm rà, phức tạp. Hiện đại hóa nền hành chính còn yếu; ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hành chính chậm. 

Sử dụng vốn ngân sách ở một số lĩnh vực chưa thật sự phát huy hiệu quả. Nhiều ngành, địa phương chỉ chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách cấp trên, chưa quan tâm đúng mức việc huy động nguồn vốn xã hội hóa, nguồn lực tại chỗ. 

III. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM 

1. Nguyên nhân khách quan 


- Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu trong những năm đầu nhiệm kỳ đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế cả nước và của tỉnh, gây khó khăn, thách thức rất lớn đối với việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, đặc biệt là thực hiện các chỉ tiêu về huy động vốn đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân. 

- Việc Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tài khóa và tiền tệ đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước nhưng hệ quả là nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn; sức mua của thị trường giảm sút, sản phẩm tiêu thụ chậm, tồn kho nhiều; đời sống của người lao động bị ảnh hưởng. 

- Điều kiện tự nhiên không thuận lợi; thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của người dân. 

2. Nguyên nhân chủ quan 

Năng lực lãnh đạo của một số cấp ủy đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành việc cụ thể hoá để tổ chức thực hiện một số quan điểm, chủ trương lớn về phát triển kinh tế - xã hội có lúc chưa thật quyết liệt và hiệu quả. 

Công tác dự báo và xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chưa tốt. Còn thiếu các định hướng, chính sách, cơ chế mang tính đột phá tạo động lực cho sự phát triển. Thiếu các giải pháp, chính sách khả thi trong huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội hoá và thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Công tác chỉ đạo tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, nhân rộng điển hình chưa được tiến hành thường xuyên. Trình độ sản xuất còn thấp, công nghệ lạc hậu; năng lực quản lý, tổ chức sản xuất, kinh doanh của các cơ sở kinh tế còn yếu; thiếu các doanh nghiệp quy mô lớn. 

Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn hạn chế, yếu kém, thiếu sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành trong chỉ đạo thực hiện. 

Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có mặt chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là khả năng tiếp cận và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách mới. Nhận thức, cộng đồng trách nhiệm của một số cơ quan, đơn vị và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh có mặt còn xem nhẹ, quyết tâm chính trị chưa cao. Vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của cấp trên trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương, đặc biệt là lĩnh vực đầu tư, phát triển. 

C. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 

I. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT
 

Năm năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, phát huy tinh thần đoàn kết, vượt qua khó khăn, thách thức, giành được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực. Sức mạnh khối đại đoàn kết trong Đảng và toàn dân được tăng cường, chính trị, xã hội ổn định. Nhiều chỉ tiêu quan trọng do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đề ra đạt và vượt kế hoạch. 

Tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân chung của cả nước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; huy động và sử dụng vốn đầu tư toàn xã hội có hiệu quả; kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư; các loại hình doanh nghiệp tiếp tục phát triển. Văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ; an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đô thị phát triển. Quốc phòng - an ninh được tăng cường, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển. Nhân dân tin tưởng vào đường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng; sự đồng thuận trong xã hội được củng cố. Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, định hướng và kế hoạch phát triển của tỉnh đã thực sự đi vào cuộc sống. 

Tuy vậy, Quảng Trị đang là một trong những tỉnh chậm phát triển của cả nước; chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế thiếu bền vững; quy mô nền kinh tế nhỏ; tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế. Lao động thiếu việc làm còn nhiều; đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, hiệu lực chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu. 

II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 

Từ thực tiễn tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch 2011 - 2015, rút ra các bài học kinh nghiệm như sau: 

1. Thường xuyên chăm lo củng cố, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và trong toàn Đảng bộ, làm nền tảng cho sự nhất trí, đồng thuận trong xã hội. Phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tính tích cực, chủ động trong giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị các cấp trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. 

2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải nhạy bén, sáng tạo và linh hoạt; vừa chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, vừa phải lựa chọn, xác định các khâu, lĩnh vực có tính đột phá. Nâng cao khả năng cụ thể hóa, khả năng tổng kết thực tiễn; kịp thời đề ra được các chủ trương, giải pháp phù hợp với diễn biến tình hình và thực tiễn của địa phương. Tổ chức thực hiện chủ động, quyết liệt, kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh; lắng nghe và giải quyết kịp thời các kiến nghị chính đáng của nhân dân. Phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu trong thực hiện các nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, địa phương. 

3. Chủ động hội nhập, vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước để tập trung cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh, khai thác tốt tiềm năng, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo của các cơ quan, đơn vị, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp; coi trọng tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận là yếu tố quan trọng, có tính quyết định đối với việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. 

4. Thực hiện tốt phương châm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, bảo đảm phát triển bền vững. 

                                                                                                                     Phần thứ hai 

                                                    PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN TỈNH QUẢNG TRỊ 5 NĂM (2016-2020) 

A. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH 


Trong những năm tới dự báo kinh tế thế giới có triển vọng phục hồi nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tình hình Biển Đông dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp. Tình hình chính trị, xã hội đất nước ổn định, kinh tế đã có dấu hiệu tăng trưởng trở lại, những thành tựu của sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã và đang tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong những năm tiếp theo, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. 

Đối với tỉnh ta, những thành tựu sau 25 năm tái lập tỉnh và kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 - 2015 đã tạo tiền đề phát triển cho giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng chưa cao, khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế; còn khó khăn trong huy động và thu hút các nguồn vốn đầu tư; chi ngân sách phụ thuộc phần lớn vào nguồn hỗ trợ từ Trung ương; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường cần phải nỗ lực để vượt qua. 

Quảng Trị có lợi thế về địa chính trị và địa kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội; là điểm đầu của tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây về phía Việt Nam; cửa ngõ hướng ra Biển Đông của các địa phương liên quan trong tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng; có 2 cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay... là lợi thế mang lại nhiều cơ hội phát triển. Tuy nhiên, do chưa được bổ sung vào vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, lại chịu áp lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư của các tỉnh, thành phố trong khu vực có khu kinh tế biển và lợi thế về hạ tầng kỹ thuật như sân bay, cảng biển là những thách thức rất lớn đối với tỉnh trong việc thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển. 

Giai đoạn 2015 - 2020, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) đi vào thực thi đầy đủ theo lộ trình, Cộng đồng kinh tế ASEAN được hình thành và một số hiệp định thương mại tự do trong đó có Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam - EU dự kiến sẽ được ký kết... mở ra nhiều cơ hội mới trong hoạt động xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức, nhất là đối với nền kinh tế có quy mô nhỏ, sức cạnh tranh chưa cao như tỉnh Quảng Trị. 

B. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU 

I. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 


Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xây dựng chính quyền năng động, hiệu quả, gần dân, phục vụ dân, doanh nghiệp và xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh. Huy động mọi nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh nhằm đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn; thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mức sống dân cư; đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện giảm nghèo bền vững. Từng bước hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển mạnh hệ thống đô thị, khu kinh tế, sớm hình thành Khu kinh tế Đông Nam. Khai thác có hiệu quả lợi thế về địa chính trị và địa kinh tế của địa phương, khai thác lợi thế Hành lang kinh tế Đông - Tây nhằm tạo động lực phát triển cho các vùng trong tỉnh. Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, bảo vệ môi trường. Tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2020, Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước. 

II. CÁC CHỈ TIÊU, CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU 

1. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu đến năm 2020 

- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân hàng năm giai đoạn 2016 - 2020 đạt 7,5 - 8%. 

- Đến năm 2020, cơ cấu ngành kinh tế: công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp đạt tỷ trọng tương ứng là 40,5% - 41% - 18,5%; 

- GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 gấp 2 lần năm 2015; 

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn giai đoạn 2016-2020 đạt 18.000 -19.000 tỷ đồng; tốc độ tăng thu nội địa bình quân trong giai đoạn 2016 - 2020 đạt trên 15%/ năm; 

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt trên 100.000 tỷ đồng; 

- Đến năm 2020 có 40-50% xã đạt tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; 

- Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm giai đoạn 2016-2020 đạt 1,5 - 2,0%; 

- Bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho trên 9.500 lao động; 

- Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65 -70%; trong đó, có bằng cấp, chứng chỉ đạt trên 28%. 

- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 80%; 

- Tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh ở thành thị đạt 95%, ở nông thôn đạt 93%. 

2. Các chỉ tiêu về xây dựng Đảng 

- Số tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ và trong sạch vững mạnh hằng năm đạt từ 85% đến 90%. 

- Trong nhiệm kỳ kết nạp từ 7.000 đến 7.500 đảng viên mới. 

3. Các chương trình, đề án, lĩnh vực mang tính đột phá 

3.1. Các vùng, hành lang, khu kinh tế: Tập trung đầu tư xây dựng và phát triển trục kinh tế kết nối Khu kinh tế Đông - Nam với Hành lang kinh tế Đông - Tây và Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo; Khu kinh tế Cửa khẩu La Lay; Khu du lịch biển Cửa Việt - Cửa Tùng - đảo Cồn Cỏ. 

3.2. Các đề án trọng điểm: Tái cơ cấu nông nghiệp; nâng cấp thành phố Đông Hà lên đô thị loại II; cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; xây dựng nông thôn mới; xây dựng và phát triển các mô hình tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân; xây dựng một số sản phẩm du lịch mới dựa trên lợi thế của tỉnh (du lịch tâm linh, du lịch hoài niệm, du lịch sinh thái biển...). 

3.3. Các ngành, lĩnh vực đột phá: Công nghiệp năng lượng, dệt may, chế biến nông, lâm, thủy sản; kinh tế biển; kinh tế đối ngoại. 

C. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 

I. TẠO BƯỚC CHUYỂN BIẾN MẠNH MẼ VỀ TĂNG TRƯỞNG, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ, SỨC CẠNH TRANH VÀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỀN KINH TẾ 

1. Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị ngành nông nghiệp đạt 3,5 - 4%/năm 


Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp. Ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực, có chính sách hỗ trợ phát triển. Chuyển dần sản xuất nông nghiệp phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu; đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao vào sản xuất; nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Nâng cao chất lượng sản xuất, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, giống thủy sản. Tăng cường đào tạo nghề cho nông dân. Thực hiện tốt các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. 

Tiếp tục thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, đẩy nhanh quá trình tập trung tích tụ ruộng đất gắn với quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp chủ lực có lợi thế như lúa chất lượng cao, cao su, cà phê, tiêu, gỗ rừng trồng …Phát triển một số cây ăn quả có hiệu quả cao[28], thử nghiệm để có cơ sở nhân rộng cây mắc ca và một số cây trồng mới. Xây dựng thương hiệu một số nông sản Quảng Trị. Hình thành chuỗi giá trị bằng các hình thức liên doanh, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Thu hút đầu tư, phát triển sản xuất ở địa bàn nông thôn. 

Tăng diện tích lúa chất lượng cao lên 18.000 ha vào năm 2020. Liên kết sản xuất lúa chất lượng cao đáp ứng tiêu chuẩn an toàn. Chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa hiệu quả thấp sang trồng cây ngắn ngày, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao. Duy trì sản lượng lương thực có hạt hàng năm đạt 24,5 - 25 vạn tấn. 

Đẩy mạnh thâm canh các cây trồng có tiềm năng, lợi thế và mở rộng diện tích ở những nơi có điều kiện. Đến năm 2020 diện tích cao su: 21.000 - 22.000 ha, cà phê: 5.300 - 5.500 ha, hồ tiêu: 2.500 - 2.700 ha,…Phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm, hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao, ổn định diện tích trồng sắn nguyên liệu khoảng 12.000 ha trên vùng quy hoạch. 

Phát triển chăn nuôi theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp, quy mô trang trại, gia trại tập trung gắn với an toàn sinh học và phòng chống dịch bệnh có hiệu quả. Phát triển gia súc gắn với quy hoạch đồng cỏ. Đẩy mạnh chương trình nạc hóa đàn lợn, zebu hóa đàn bò, nâng cao chất lượng đàn gia cầm. Tăng cường công tác thú y và phòng chống dịch bệnh. Gắn phát triển chăn nuôi với chế biến, giết mổ tập trung đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Phấn đấu tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chiếm 35% giá trị ngành nông nghiệp vào năm 2020. 

Tiếp tục phát triển thủy sản thành ngành kinh tế mạnh của tỉnh. Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản, khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi thủy sản; phát triển kinh tế biển trên cơ sở tiềm năng, lợi thế biển của tỉnh. Tăng cường đầu tư tàu thuyền công suất lớn, từng bước hiện đại hóa đội tàu khai thác hải sản kết hợp phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia; khuyến khích phát triển các cơ sở đóng và sửa chữa tàu thuyền. Tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá tại Cửa Việt, Cửa Tùng; xây dựng đảo Cồn Cỏ thành căn cứ hậu cần nghề cá khu vực theo hướng lưỡng dụng. Tăng sản lượng thủy sản năm 2020 đạt khoảng 38 nghìn tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 22.000 - 23.000 tấn. Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản lên khoảng 3.800 - 4.000 ha. 

Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững. Chú trọng bảo vệ các khu rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu, rừng phòng hộ biên giới. Bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng. Phấn đấu hàng năm trồng khoảng 5.000 - 5.500 ha rừng tập trung các loại. Đẩy mạnh trồng rừng áp dụng chứng chỉ FSC. Duy trì độ che phủ rừng ổn định 49,5%. Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác hàng năm 450.000 - 500.000m3. 

Tiếp tục phát triển hệ thống thủy lợi theo hướng phục vụ đa mục tiêu. Đầu tư, nâng cấp hệ thống các công trình thủy lợi và bảo đảm an toàn hồ chứa. Nâng cao năng lực chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Gắn phát triển kinh tế - xã hội với phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai. 

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả các loại hình kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Chú trọng phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất, kinh doanh theo chuỗi giá trị sản phẩm. Hỗ trợ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho kinh tế hộ phát triển. 

Huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Chú trọng xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất đem lại thu nhập cao và ổn định cho người dân. Rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch xây dựng nông thôn mới các xã. Nhân rộng mô hình bí thư cấp ủy kiêm trưởng ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến năm 2020 có 40-50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí quốc gia. 

2. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp - xây dựng theo hướng hiện đại, gắn với bảo vệ môi trường. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị công nghiệp - xây dựng bình quân 5 năm đạt 10,5 - 11%/năm 

Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; đồng thời rà soát, điều chỉnh bổ sung để phù hợp với xu hướng phát triển và tiềm năng thế mạnh của địa phương. Thực hiện tốt quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị, triển khai xây dựng quy hoạch chi tiết tạo điều kiện thu hút đầu tư. 

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư các dự án công nghiệp quy mô lớn mà tỉnh có lợi thế so sánh như: năng lượng, dệt may, công nghiệp siliccat, trước hết là các dự án: Nhà máy nhiệt điện than 1.200MW, dự án cấp nước sông Nhùng, các dự án điện gió, nhà máy xử lý khí, các dự án công nghiệp phụ trợ… Hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án đang triển khai tại các khu, cụm công nghiệp.

Thu hút nguồn vốn FDI và các nguồn vốn khác từng bước đầu tư hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam và tiếp tục xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khôi phục và phát triển các làng nghề, du nhập nghề mới; đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường trong các khu, cụm công nghiệp. 

Đẩy mạnh hoạt động khuyến công; khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất, kinh doanh; hỗtrợcác doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mở rộng quy mô sản xuất theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng; tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng. 

Ưu tiên tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản dựa trên lợi thế nguồn nguyên liệu tại địa phương, có thị trường tiêu thụ. Thực hiện tốt chính sách của nhà nước về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. 

Nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất của ngành cơ khí, sửa chữa và sản xuất phụ tùng thay thế; đóng và sửa chữa tàu đánh cá, phương tiện vận tải; lắp ráp thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp. Triển khai Quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh đến năm 2030, định hướng đến năm 2050. Phát triển sản xuất các sản phẩm vật liệu xây dựng từ nguồn nguyên liệu địa phương, đáp ứng thị trường trong tỉnh. Ưu tiên sử dụng vật liệu xây không nung vào các công trình xây dựng. 

Phát huy công suất các cơ sở sản xuất nước sạch hiện có trên địa bàn; hoàn thành các dự án đầu tư mới cấp nước cho các thị trấn, thị tứ, khu, cụm công nghiệp theo đề án đã được phê duyệt; bảo đảm cung cấp đủ nước sinh hoạt cho các đô thị và khu vực nông thôn. 

Tích cực áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, hiện đại vào tổ chức thi công xây dựng, đáp ứng nhu cầu thi công xây dựng các công trình có quy mô lớn, kết cấu vĩnh cửu, hiện đại trên địa bàn. Tăng cường quản lý chất lượng công trình xây dựng. 

Nghiên cứu xây dựng và hình thành các khu kinh tế chung trên biên giới Việt - Lào, các liên kết kinh tế để đẩy mạnh hợp tác phát triển với các địa phương trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây và tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng. 

3. Nâng cao chất lượng và hiệu quả các loại hình dịch vụ, phát triển mạnh dịch vụ du lịch, phấn đấu tốc độ tăng giá trị thương mại - dịch vụ bình quân đạt 8,5 - 9%/năm 

Điều chỉnh, bổ sung và quản lý chặt chẽ có hiệu quả các quy hoạch phát triển thương mại, dịch vụ của tỉnh đến năm 2020. 

Ban hành các chính sách địa phương, nghiên cứu đề xuất với Trung ương ban hành các cơ chế, chính sách nhằm khai thác và phát huy lợi thế của tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây. Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng và tăng sức hấp dẫn của Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo. Huy động các nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng các cửa khẩu quốc tế; đề xuất với Chính phủ sớm thành lập Khu kinh tế Cửa khẩu La Lay. 

Coi trọng thị trường nội địa, nhất là thị trường nông thôn; tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho hàng hóa, nhất là nông sản hàng hóa của địa phương; đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm sản xuất tại địa phương. Tạo môi trường thông thoáng thu hút các doanh nghiệp xuất khẩu qua các Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay. Phấn đấu kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm đạt 450 - 500 triệu USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu trên 230 triệu USD. Hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp thương mại có quy mô lớn và khả năng cạnh tranh cao. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cửa hàng xăng dầu kết hợp điểm dừng nghỉ trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây. 

Phát triển mạnh dịch vụ vận tải, mạng lưới kho bãi, các trung tâm logistics, dịch vụ phục vụ hàng quá cảnh, tạm nhập tái xuất. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức quốc tế, kết nối với vận tải đa phương thức trong nội địa. Xây dựng Quảng Trị trở thành điểm trung chuyển hàng hóa của các nước trong khu vực. 

Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các loại dịch vụ tư vấn, công nghệ thông tin... 

Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, ứng dụng thương mại điện tử. 

Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Quảng Trị đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, liên doanh, liên kết với các tỉnh miền Trung và các địa phương trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây để phát triển du lịch. 

Thực hiện tốt công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất phát triển, tạo nguồn thu cho ngân sách; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế; hạn chế thấp nhất việc nợ đọng thuế. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế trong việc kê khai và chấp hành nghĩa vụ nộp thuế theo hướng thuận lợi, giảm tối đa về thời gian. 

Phấn đấu tăng thu nội địa để thực hiện các chính sách địa phương thực sự cần thiết, đối ứng các dự án ODA của tỉnh và dành một phần cho đầu tư phát triển. Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, đặc biệt nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Quản lý chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm, chống lãng phí; rà soát các chế độ chính sách để đảm bảo chi ngân sách thiết thực, hiệu quả. Thực hiện tốt chính sách tiền tệ theo sự chỉ đạo, điều hành của Ngân hàng Trung ương. Tăng dư nợ vốn vay phát triển sản xuất, kinh doanh; nhất là tín dụng hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn. 

II. ĐẨY MẠNH HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TOÀN XÃ HỘI ĐỂ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG, ĐÁP ỨNG TỐT HƠN YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI; PHÁT TRIỂN HÀI HÒA GIỮA CÁC VÙNG ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN 

1. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển 


Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016-2020. Phát huy vai trò định hướng của công tác quy hoạch trong thu hút đầu tư. Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với kế hoạch huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển xã hội. 

Thực hiện các hình thức liên doanh, liên kết, góp vốn, đẩy mạnh xã hội hóa trong huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển; áp dụng rộng rãi hình thức đối tác công tư (PPP) trong thực hiện các chương trình, dự án, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn. Phát triển các hình thức đầu tư theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, nhất là trong xây dựng nông thôn mới. Xã hội hóa mạnh mẽ đầu tư trong các lĩnh vực dịch vụ công. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh kết cấu hạ tầng. Thực hiện thí điểm việc xã hội hóa đầu tư một số bến xe, cảng; cơ sở y tế, trường học… để huy động nguồn vốn từ khu vực kinh tế tư nhân. 

Xây dựng và công bố rộng rãi các danh mục chương trình, dự án vận động, thu hút đầu tư. Tạo điều kiện tối đa để huy động các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước, trong tỉnh. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng và có cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các dự án có quy mô lớn, yêu cầu công nghệ cao. 

Tích cực tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung ương để vận động và triển khai thực hiện các dự án ODA và nguồn vốn do các bộ, ngành trung ương quản lý để đầu tư xây dựng các dự án quan trọng của tỉnh. 

2. Các dự án trọng điểm: 

Về xây dựng và phát triển các khu kinh tế: Xây dựng kết cấu hạ tầng Khu Đông Nam tỉnh, nhà máy nhiệt điện 1.200MW, cảng biển Mỹ thủy, dự án cấp nước sông Nhùng,… để có cơ sở sớm thành lập Khu kinh tế Đông Nam. Đầu tư xây dựng một số công trình thiết yếu tại khu vực Cửa khẩu quốc tế La Lay góp phần xúc tiến nhanh việc thành lập Khu kinh tế Cửa khẩu La Lay. 

Về hạ tầng giao thông: Nâng cấp và mở rộng cảng Cửa Việt (cả bờ Bắc và bờ Nam); xây dựng mới tuyến đường tránh qua thị xã Quảng Trị, đường Hùng Vương nối dài giai đoạn 3, đường trục trung tâm Khu kinh tế Đông Nam đoạn Cửa Việt - Hải Khê, đường tránh Quốc lộ 1A phía Đông thành phố Đông Hà, nâng cấp Quốc lộ 9 đoạn từ Quốc lộ 1A đi cảng Cửa Việt; Quốc lộ 15 D nối cửa khẩu La Lay với cảng Mỹ Thủy. 

Về hạ tầng đô thị: Nâng cấp hạ tầng thành phố Đông Hà đạt chuẩn đô thị loại II trước năm 2020; thị xã Quảng Trị và thị trấn Lao Bảo thành đô thị loại III trước năm 2020; xây dựng và phát triển đô thị Tà Rụt, Hướng Phùng, Mỹ Chánh, Nam Cửa Việt (Bồ Bản). 

Về hạ tầng điện: Dự án cấp điện nông thôn Quảng Trị; các dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp lưới điện,... 

Về nông nghiệp: Mở rộng, nâng cấp khu dịch vụ hậu cần nghề cá đảo Cồn Cỏ cấp vùng theo hướng lưỡng dụng. 

Về lĩnh vực văn hóa - xã hội: Nâng cấp, xây dựng Bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị, các trường học chất lượng cao, trường học kiểu mẫu. 

3. Phát triển hài hoà giữa các vùng đô thị và nông thôn 

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách, chương trình, đề án phát triển các ngành, lĩnh vực, các vùng để tạo ra sự phát triển hợp lý, hài hoà giữa đồng bằng, miền núi, ven biển; đô thị và nông thôn; qua đó phát huy được lợi thế của từng vùng, tạo sự liên kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giải quyết những vấn đề mâu thuẫn trong quá trình phát triển. 

Đẩy mạnh công tác quy hoạch, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng để định hướng quá trình phát triển, chú trọng xây dựng các công trình tạo điểm nhấn đô thị, tận dụng mặt nước sông, hồ để hình thành các không gian kiến trúc và cảnh quan; phát triển hệ thống hạ tầng đô thị; huy động các nguồn lực, tập trung đầu tư hạ tầng nông thôn nhằm tạo ra sự cân đối, hài hoà giữa các vùng, miền. 

III. CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT, KINH DOANH, THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP 

1. Cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cải thiện môi trường sản xuất, kinh doanh 


Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động cải thiện và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc cung ứng các dịch vụ công; giải quyết các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe, hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng cộng đồng doanh nghiệp trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quê hương. Phấn đấu đưa chỉ số PCI thuộc tốp 20 của cả nước. 

Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức công vụ của cán bộ, công chức, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, tạo thuận lợi tối đa, giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp trong các lĩnh vực cấp phép đầu tư, thuế, hải quan, đăng ký kinh doanh, giao đất, thuê đất... Thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và xuất nhập cảnh; giảm bớt các rào cản ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa trên tuyến Quốc lộ 9. Vận hành hiệu quả mô hình “một cửa một lần dừng” tại Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo - Đensavan, mô hình một cửa điện tử tại các cơ quan nhà nước. Thực hiện đầy đủ các cơ chế, chính sách ưu đãi của nhà nước và của địa phương; nâng cao tính minh bạch và tăng cường khả năng tiếp cận thông tin, đất đai cho doanh nghiệp. Tránh các cuộc thanh tra, kiểm tra chồng chéo, gây phiền hà, trở ngại đối với hoạt động của doanh nghiệp. 

Tạo điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển; bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. 

Phát huy vai trò của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và cộng đồng trong tham gia xây dựng, phản biện và giám sát thực hiện chính sách, pháp luật của các cơ quan nhà nước. 

2. Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế 

Tiếp tục thực hiện cổ phần hóa, tái cơ cấu DNNN tỉnh quản lý theo lộ trình đã đề ra; thực hiện công khai, minh bạch kết quả hoạt động của DNNN theo quy định của pháp luật. 

Tổ chức thực hiện tốt các cơ chế, chính sách của Nhà nước; đồng thời nghiên cứu, ban hành các chính sách địa phương phù hợp để thực hiện mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Huy động và nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân. Phấn đấu đến năm 2020, thành lập mới khoảng 1.000 - 1.200 doanh nghiệp. 

Thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ về phát triển, vận hành thông suốt, hiệu quả các loại thị trường. Thực hiện cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với cung cấp dịch vụ công. Cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công, giao quyền tự chủ phù hợp, nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ công, nhất là hình thức hợp tác công tư. Bảo đảm bình đẳng giữa đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập. Thí điểm cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công; thực hiện mô hình đơn vị sự nghiệp công do cộng đồng quản lý; đơn vị sự nghiệp công hoạt động như doanh nghiệp công ích; cho thuê cơ sở, vật chất của Nhà nước để kinh doanh dịch vụ công. 

IV. PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GẮN VỚI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 

1. Phát triển toàn diện sự nghiệp giáo dục - đào tạo 


Thực hiện đồng bộ chủ trương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đổi mới mạnh mẽ các yếu tố cơ bản của giáo dục, chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học; chú trọng giáo dục phẩm chất đạo đức cho thế hệ trẻ. 

Duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập trung học cơ sở, phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tiếp tục thực hiện phổ cập giáo dục bậc trung học. 

Đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học, phương pháp kiểm tra và đánh giá. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục. Thực hiện có hiệu quả đề án ngoại ngữ quốc gia. 

Tăng cường cơ sở vật chất, kiên cố hóa trường, lớp học, đầu tư trang thiết bị đảm bảo các điều kiện dạy học theo hướng đổi mới. Quan tâm đầu tư nguồn lực cho vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn. 

Đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia, trường đạt chất lượng giáo dục, trường học kiểu mẫu. Triển khai xây dựng hoặc đầu tư nâng cấp để đảm bảo mỗi huyện, thị xã, thành phố ở mỗi cấp học có 1 trường kiểu mẫu. 

Tiếp tục nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới. 

Phát triển hợp lý và bảo đảm bình đẳng giữa giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập. Giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đào tạo, nhất là các trường dạy nghề. Thực hiện thí điểm chuyển đổi mô hình trường công lập sang cơ sở giáo dục do cộng đồng, doanh nghiệp quản lý và đầu tư. 

Thực hiện chủ trương giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức khuyến học; khuyến khích hình thành các quỹ học bổng giúp học sinh, sinh viên nghèo vượt khó, học giỏi. 

2. Phát triển nguồn nhân lực 

Thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về phát triển nguồn nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao; đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ; gắn kết giữa phát triển nguồn nhân lực với ứng dụng khoa học, công nghệ... Thực hiện tốt công tác đào tạo, cung cấp kiến thức, kỹ năng cần thiết cho đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và doanh nhân để đáp ứng xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng; đồng thời chủ động khai thác có hiệu quả các cơ hội phát triển kinh tế - xã hội và giảm thiểu các tác động bất lợi trong quá trình hội nhập. 

Đẩy mạnh dạy nghề, gắn công tác đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và xã hội. Thực hiện Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020; Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và các chương trình đào tạo nghề cho người lao động gắn với mục tiêu xuất khẩu lao động và xây dựng nông thôn mới. Có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu các dự án đầu tư, nhất là các dự án triển khai tại Khu Đông Nam của tỉnh. 

Phát huy hiệu quả của Phân viện Đại học Huế tại Quảng Trị và các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn trong việc đào tạo nguồn nhân lực. Làm tốt công tác quy hoạch và dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, tạo sự liên kết giữa cơ sở đào tạo với địa phương, đơn vị sử dụng lao động. 

V. PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI; THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC AN SINH XÃ HỘI, NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN 

1. Chăm lo phát triển sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao và xây dựng con người 


Tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn nữa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Thực hiện tốt mục tiêu xây dựng con người phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân và sự tuân thủ pháp luật. Tạo điều kiện nâng cao mức hưởng thụ văn hóa và tham gia hoạt động, sáng tạo văn hóa của nhân dân. 

Đẩy mạnh thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng văn minh đô thị. Thực hiện có hiệu quả Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới và cuộc vận động xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hoá tiêu biểu. Chú trọng đầu tư các thiết chế văn hóa, thể thao; thực hiện tốt việc đầu tư tôn tạo, bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị văn hoá phi vật thể, các di tích lịch sử, văn hóa, danh thắng trên địa bàn tỉnh. 

Tiếp tục đầu tư hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin. Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống báo chí, xuất bản, bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh và truyền hình. Xã hội hoá mạnh mẽ các hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch; tăng cường năng lực quản lý nhà nước về văn hoá, thông tin, truyền thông bảo đảm để các cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương. 

Phát triển sự nghiệp thể dục - thể thao nhằm nâng cao thể chất, con người Việt Nam, phát triển phong trào thể dục - thể thao quần chúng. Có kế hoạch đào tạo, phát hiện để xây dựng đội ngũ vận động viên thể thao thành tích cao ở những bộ môn có thế mạnh. 

2. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số, gia đình, trẻ em 

Tăng cường đầu tư cho công tác y tế dự phòng, thực hiện tốt các chương trình chăm sóc sức khoẻ nhân dân và phòng chống các dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Nâng cao năng lực khám chữa bệnh của các cơ sở y tế. Khuyến khích phát triển các cơ sở y dược tư nhân. Thực hiện tốt BHYT cho đối tượng nghèo, cận nghèo. 

Nâng cao năng lực chuyên môn, đề cao trách nhiệm, tinh thần và thái độ phục vụ bệnh nhân của đội ngũ cán bộ y tế. Thực hiện có hiệu quả chính sách thu hút, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ y tế. 

Tập trung đầu tư và hoàn thiện hệ thống bệnh viện đa khoa và chuyên khoa. Đầu tư trang thiết bị, triển khai các kỹ thuật mới tại các tuyến và kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh. Hoàn thành nâng cấp Bệnh viện phục hồi chức năng, triển khai xây dựng Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020, có trên 95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. 

Triển khai tốt chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, bình đẳng giới. Giải quyết có hiệu quả vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng chính sách, người cao tuổi, người nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng đặc biệt khó khăn. Quản lý chặt chẽ giá dịch vụ, giá thuốc. Thực hiện tốt công tác giáo dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn 12% (cân nặng theo độ tuổi). 

3. Giải quyết việc làm, giảm nghèo và thực hiện các chính sách an sinh xã hội 

Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; các chương trình, dự án, chính sách an sinh xã hội để hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, ổn định đời sống cho người nghèo, vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai. Giải quyết tốt vấn đề về đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở; định canh định cư ở các xã, thôn, bản vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn. 

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các gia đình chính sách, người có công, đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Phát triển các loại hình dịch vụ, phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội. Thực hiện tốt chương trình phòng chống ma tuý, mại dâm và HIV/AIDS. 

Triển khai thực hiện chương trình mục tiêu về việc làm; chú trọng công tác xuất khẩu lao động, tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động có tiềm năng, nhất là các nước trong khu vực ASEAN; quan tâm giải quyết việc làm, đặc biệt là việc làm cho lực lượng lao động có trình độ cao đẳng và đại học. Thực hiện tốt chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với việc chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp. 

Có các giải pháp hữu hiệu cải thiện môi trường và điều kiện lao động; giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp. Chú trọng công tác an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trong sản xuất, kinh doanh. 

4. Phát triển khoa học công nghệ, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao vàứng dụng khoa học - công nghệ vào các lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh, nhất làứng dụng công nghệthông tin, công nghệsinh học, công nghệsản xuất vật liệu mới. Phát triển một sốngành sản xuất, dịch vụcóhàm lượng khoa học - công nghệ cao, công nghệmới... Nhân rộng các mô hình, áp dụng có hiệu quảcác tiến bộ khoa học - công nghệ. 

Rà soát các dữ liệu điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên. Ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cơ bản phục vụ phát triển kinh tế- xã hội. Tăng cường công tác tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu sản phẩm, hàng hóa. Phát huy hiệu quả quỹ KH&CN, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. 

Từng bước tăng cường tiềm lực KH&CN của tỉnh. Mởrộng giao lưu hợp tác KH&CN nhằm tranh thủ nguồn lực, tiếp thu công nghệ mới. Phát huy vai trò của Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật trong phản biện khoa học, phản biện xã hội. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ. 

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên; có kế hoạch khai thác hợp lý để sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản không tái tạo, tránh phương hại đến mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai. 

Chủ động ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường từ các hoạt động sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, phát triển đô thị và các vùng dân cư tập trung. Phấn đấu đến năm 2020 có 100% khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn; 40% khu đô thị có hệ thống xử lý nước thải, chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường và có trên 95% chất thải rắn ở đô thị được thu gom. 

Tăng cường phát triển và bảo vệ rừng đầu nguồn; xây dựng các hồ, đập thủy lợi; bảo vệ môi trường nguồn nước; tổ chức điều tra chất lượng, trữ lượng các nguồn nước, nhất là nguồn nước ngầm để quy hoạch, bảo vệ, khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước trên địa bàn tỉnh. 

Làm tốt công tác dự báo, cảnh báo thiên tai, quan trắc và phân tích môi trường, khí hậu, mực nước biển. Thực hiện khoanh vùng thiên tai nguy hiểm và chủ động di dời dân ra khỏi các vùng nguy hiểm, ổn định tái định cư. Củng cố, nâng cấp hệ thống đê bao vùng trũng, hệ thống đê, kè chống sạt lở bờ biển, bờ sông; xử lý các sự cố sụt lún, sạt lở đất. 

Tổ chức thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Xây dựng kế hoạch chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các thiên tai thường xảy ra. 

Tăng cường bảo vệ các hệ sinh thái ven biển, nhất là bảo vệ diện tích rừng, rừng ngập mặn, cây phân tán dọc theo bờ biển, trồng rừng ngập mặn. Bảo vệ nguồn lợi thủy hải sản, từng bước xây dựng Khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ. 

VI. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - AN NINH, GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ VÀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI 

Quán triệt sâu sắc đường lối quốc phòng, an ninh của Đảng trong tình hình mới. Phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 28-NQ/ TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang địa phương chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. 

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, xã hội trong từng quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Phấn đấu 100% huyện, thị xã, thành phố đầu tư từng bước xây dựng khu căn cứ chiến đấu và căn cứ hậu phương. Xây dựng cơ sở xã, phường, thị trấn cụm an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu và an ninh trật tự ngày càng vững chắc. Xây dựng “Thế trận lòng dân” làm nền tảng cho việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng công an xã, bảo vệ dân phố, dân quân tự vệ, dự bị động viên, thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, khả năng sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. 

Chủ động phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu chống phá, gây rối, “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm. Tiếp tục thực hiện tốt Chiến lược quốc gia phòng chống kiểm soát ma túy đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; có giải pháp phù hợp để kiềm chế tai nạn giao thông, đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới”. 

Nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, khả năng xử lý tình huống về quốc phòng, an ninh cho lực lượng vũ trang. Chủ động chuẩn bị lực lượng, hậu cần và các kế hoạch tác chiến cụ thể. Tích cực phối hợp với các cấp chính quyền địa phương giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt; tìm kiếm cứu nạn; làm tốt công tác đối ngoại quân sự và chính sách hậu phương quân đội. Thực hiện tốt chương trình hợp tác giữa lực lượng vũ trang Quảng Trị với lực lượng vũ trang các tỉnh bạn Lào có chung đường biên giới nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, phòng chống tội phạm, góp phần xây dựng tuyến biên giới Việt-Lào hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển. 

VII. ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP 

Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và công tác đối ngoại. Tập trung thực hiện pháp luật, cơ chế chính sách và tạo lập môi trường, điều kiện thuận lợi, an toàn để kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, thông suốt, hiệu quả và phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ, tự do sáng tạo của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội. 

Xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, hiệu lực, hiệu quả, lấy kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm tiêu chí đánh giá, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết nhu cầu, quyền và lợi ích chính đáng của người dân và doanh nghiệp. 

Tiếp tục thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, nhân rộng mô hình một cửa, một cửa liên thông điện tử tại các ngành, UBND cấp huyện, cấp xã gắn với rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện hành. Triển khai thực hiện Bộ chỉ số cải cách hành chính, Bộ chỉ số đánh giá hoạt động của bộ phận một cửa, Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan nhà nước. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công và thực hiện Chính phủ điện tử. Xác định vị trí việc làm gắn với tiêu chuẩn, chức danh công chức, viên chức. Đánh giá cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ, quy định thời gian tối đa cơ quan có thẩm quyền phải xử lý, giải quyết đối với các kiến nghị, đề xuất do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân gửi đến. 

Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; công tác hòa giải cơ sở, theo dõi việc thi hành pháp luật và thi hành án dân sự. 

Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức tốt bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. 

VIII. ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI, CHỦ ĐỘNG MỞ RỘNG QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG KHU VỰC VÀ QUỐC TẾ 

1. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong quan hệ quốc tế 


Thực hiện nhất quán đường lối, chủ trương và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Giữ vững và phát huy các mối quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống; tích cực mở rộng phạm vi quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới, nhất là các tỉnh trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, các nước trong khu vực ASEAN. Giữ vững quan hệ hữu nghị đặc biệt với các tỉnh thuộc nước bạn Lào có chung đường biên giới; xây dựng và củng cố đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp và nhân dân hai bên biên giới sinh sống và hợp tác phát triển kinh tế. 

Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, giữ vững và mở rộng thị trường xuất khẩu. Phát triển các thị trường trọng điểm và có nhiều tiềm năng. Tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó chú trọng các giải pháp thực hiện cụ thể đối với từng ngành, lĩnh vực, từng khu vực kinh tế để khai thác có hiệu quả các cơ hội phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. 

Tăng cường hợp tác, thực hiện đầy đủ các cam kết với các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ trong việc thực hiện các dự án kinh tế, nhân đạo, từ thiện, khắc phục hậu quả chiến tranh. 

2. Chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nhất là hợp tác với các nước trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, tích cực tìm kiếm, kêu gọi và thu hút đầu tư 

Nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp về tầm quan trọng của hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; tác động của các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đối với địa phương, đơn vị. 

Tiếp tục đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng cho hàng hoá xuất nhập khẩu qua Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, Cửa khẩu Quốc tế La Lay, Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo, cảng Cửa Việt phục vụ tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu. 

Tập trung phát triển Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo, từng bước hình thành Khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế La Lay, tạo tiền đề tăng cường hợp tác phát triển kinh tế, thu hút đầu tư. 

IX- TIẾP TỤC ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI, PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN 

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo, phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, hướng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế-xã hội. 

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, củng cố và nâng cao chất lượng tổ chức, bộ máy, cán bộ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu vai trò, chức năng, nhiệm vụ Mặt trận trong thời kỳ mới. Tăng cường phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành, phối hợp hành động với các tổ chức thành viên, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; phát huy dân chủ, nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo đảm quốc phòng - an ninh. 

Quan tâm giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, đạo đức nghề nghiệp cho công nhân, đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, người lao động. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động, nhất là việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc phục hồi sức khoẻ. Tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, phát huy vai trò tiền phong của công nhân, công chức, viên chức, người lao động trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Tăng cường củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Công đoàn, chú trọng phát triển đoàn viên và tổ chức Công đoàn ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước. 

Hỗ trợ và phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới. Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích nông dân tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng các mô hình kinh tế hiệu quả cao, xoá đói, giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư nông thôn. Các cấp hội nông dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, tập hợp, vận động, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, hăng hái tham gia các phòng trào thi đua, xây dựng nông thôn mới, cùng chính quyền giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân. 

Coi trọng và phát huy trí tuệ, năng lực của đội ngũ trí thức, xây dựng và thực hiện chính sách trọng dụng, thu hút nhân tài cho sự nghiệp xây dựng, phát triển quê hương. Tạo điều kiện để phát huy vai trò tư vấn, phản biện của đội ngũ trí thức; xây dựng đội ngũ trí thức, chuyên gia giỏi trên các lĩnh vực có cơ cấu hợp lý, phù hợp nhu cầu phát triển địa phương, ngành, lĩnh vực. 

Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao. Phát huy vai trò tích cực của đội ngũ doanh nhân trong phát triển sản xuất, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, đóng góp cho ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dựng và phát triển thương hiệu hàng hoá Việt Nam, hàng hoá Quảng Trị, đóng góp ngày càng nhiều cho các hoạt động xã hội. 

Chăm lo bồi dưỡng, đào tạo, rèn luyện thế hệ trẻ phát triển toàn diện; tạo điều kiện, môi trường thuận lợi cho thanh niên cống hiến, rèn luyện, trưởng thành đóng góp tài năng, sức trẻ cho sự nghiệp xây dựng quê hương giàu đẹp. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đoàn viên, thanh niên ưu tú, tạo nguồn cho Đảng; quy hoạch, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ trẻ để bổ sung cho tổ chức đảng, chính quyền và hệ thống chính trị. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức Đoàn, mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên, xây dựng Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam và Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh vững mạnh. 

Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; phát huy mọi tiềm năng và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách bình đẳng giới, chính sách đối với cán bộ, lao động nữ, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ phát triển tiến bộ tham gia tích cực vào quản lý xã hội, tăng tỷ lệ nữ tham gia vào cấp ủy Đảng và bộ máy quản lý Nhà nước. Chăm lo xây dựng tổ chức Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp vững mạnh, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động phụ nữ hăng hái tham gia giúp nhau phát triển sản xuất, kinh doanh, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc. 

Hội Cựu chiến binh các cấp phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân. Tăng cường tập hợp, đoàn kết lực lượng cựu chiến binh giúp nhau phát triển kinh tế, cải thiện, nâng cao đời sống, tích cực tham gia giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Tăng cường giám sát và phản biện xã hội, góp ý kiến xây dựng Đảng, chính quyền, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và tệ nạn xã hội; tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. 

Tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để các hội quần chúng hoạt động có hiệu quả theo tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ; đem lại lợi ích thiết thực cho đông đảo hội viên và quần chúng nhân dân. 

Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo mọi điều kiện để người cao tuổi được thụ hưởng đầy đủ các chính sách và tiến bộ xã hội, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc. Phát huy vai trò người cao tuổi trong gia đình và cộng đồng dân cư, xã hội, xây dựng gia đình “ông bà, cha mẹ mẫu mực, cháu con hiếu thảo”. 

Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về đoàn kết các dân tộc, đoàn kết các tôn giáo, tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng pháp luật. Tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc ít người; truyền thống đoàn kết, xây dựng cuộc sống mới “tốt đời, đẹp đạo” của đồng bào có đạo. Kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

Chủ động kết nối, vận động, động viên đồng bào Quảng Trị đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài và các tỉnh, thành trong cả nước hướng về quê hương bằng những việc làm cụ thể nhằm góp phần xây dựng Quảng Trị ngày càng phát triển. 

X. NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO, SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN; THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHOÁ XI 

1- Tiếp tục đổi mới các mặt hoạt động, nâng cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng 


Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác tư tưởng, nhất là giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận trong nhân dân. 

Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên. 

Nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy, đào tạo của Trường Chính trị Lê Duẩn và các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. 

Triển khai quán triệt, học tập một cách kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn; gắn kết chặt chẽ việc nghiên cứu, học tập các chủ trương của Trung ương Đảng với việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động phù hợp với thực tiễn của địa phương, đơn vị. 

Phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng thông tin tuyên truyền, sử dụng đa dạng các loại hình tuyên truyền như báo chí, văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền miệng, các diễn đàn, hội thảo... làm cho công tác chính trị, tư tưởng phong phú, sinh động, thực hiện tốt nhiệm vụ định hướng dư luận xã hội. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ các cơ quan báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị, tư tưởng, có kỹ năng nghiệp vụ tốt. Sắp xếp hợp lý các cơ quan báo chí, xuất bản, tăng cường hiệu quả hoạt động, đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng hiện đại. 

Chủ động đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình”. 

Tiếp tục triển khai sâu rộng và có hiệu quả hơn nữa Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân. Kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đi vào chiều sâu, trở thành việc làm thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, việc làm hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. 

2- Tập trung nâng cao chất lượng công tác tổ chức, cán bộ 

Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức tránh chồng chéo; xây dựng bộ máy tinh gọn, hợp lý, hiệu quả. 

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ công tác cán bộ. Đổi mới tư duy, cách làm, phát huy dân chủ, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, hạn chế trong từng khâu của công tác cán bộ. Xây dựng và thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng bố trí, sử dụng cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch cán bộ; tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành kết hợp với việc bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ, khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp. Thực hiện tốt Nghị quyết 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị về việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời khắc phục, uốn nắn những khuyết điểm, lệch lạc trong việc chấp hành các nghị quyết, quy định, quy chế của Đảng về công tác cán bộ, nhất là trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa. 

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu, tự phê bình và phê bình, tăng sinh hoạt chuyên đề. Quan tâm nâng cao chất lượng đảng viên, tập trung củng cố những tổ chức đảng yếu kém, nội bộ mất đoàn kết. Đẩy mạnh phát triển tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp, phấn đấu thành lập mới trên 50 tổ chức Đảng trong doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước. Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của tổ chức Đảng ở cơ sở. Thực hiện đúng chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị; chú trọng nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay. 

3- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng 

Tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và Kết luận số 72-KL/ TW của Bộ Chính trị khoá X về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và Ủy ban kiểm tra (UBKT), nhất là đối với chi bộ và người đứng đầu về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. 

Tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp. Chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát theo quan điểm giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm. Kịp thời ban hành, sửa đổi quy định, quy trình kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT, chi bộ phù hợp với tình hình địa phương, đơn vị. 

Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chú trọng những lĩnh vực, đối tượng dễ xảy ra vi phạm, nơi có dấu hiệu ban hành chính sách trái quy định của cấp trên và bao che sai phạm của cấp dưới, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. 

Thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng giữa UBKT với các cơ quan có liên quan. Chú trọng việc kiện toàn, củng cố UBKT, tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan UBKT các cấp đủ số lượng và đúng cơ cấu quy định. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, có tính chiến đấu cao, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. 

4- Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác dân vận 

Tiếp tục thực hiện tốt các nghị quyết của Trung ương về công tác dân vận. Tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với công tác dân vận của hệ thống chính trị, công tác dân tộc, công tác tôn giáo, công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tạo mọi điều kiện để MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. 

Không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy về công tác dân vận và vai trò, vị trí công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới. Thực hiện tốt quan điểm “Trọng dân, gần dân”, chăm lo bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người dân ; gắn nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của dân trong công tác dân vận. 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các nhân tố, điển hình tiên tiến, gương người tốt - việc tốt trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực đời sống xã hội; mở rộng dân chủ trong nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tập trung mọi nguồn lực chăm lo cho phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội; xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, các chính sách an sinh và phúc lợi xã hội trong các tầng lớp nhân dân. 

Tăng cường chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp; kịp thời cụ thể hoá các chủ trương, đường lối của Đảng thành các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội; tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những bức xúc và nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; nâng cao nhận thức của CBCC-VC, đoàn viên, hội viên, các đoàn thể nhân dân, chiến s các lực lượng vũ trang về công tác dân vận, vận động quần chúng và ý thức trách nhiệm trong phục vụ nhân dân. 

5- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng 

Thực hiện tốt Luật Phòng, chống tham nhũng và Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, chú trọng công tác thanh tra, điều tra phát hiện tham nhũng, lãng phí, nhất là trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng như công tác cán bộ, quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công. Nghiêm túc thực hiện các quy định về kê khai tài sản. Tiếp tục rà soát, sửa đổi bổ sung và hoàn thiện các chế độ chính sách, tiêu chuẩn, đảm bảo đồng bộ thống nhất. Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Củng cố, kiện toàn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan phòng, chống tham nhũng. 

Tiếp tục thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; xây dựng, thực hiện đề án xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp. Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đối tượng chính sách và người nghèo bằng nhiều hình thức. Chú trọng việc giáo dục, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ tư pháp, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền tư pháp thật sự trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý và phục vụ nhân dân. 

6- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng 

Thực hiện rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới các quy chế, quy định, quy trình công tác, nhất là quy chế làm việc của các cấp ủy. Cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị-xã hội. 

Gắn đổi mới phương thức lãnh đạo với thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cấp ủy; bảo đảm thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; giữ vững và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả tự phê bình và phê bình, chất vấn trong các kỳ họp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy tổ chức đảng các cấp. 

Nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành các nghị quyết, văn bản của cấp ủy theo hướng thiết thực, ngắn gọn, khả thi; phải cân đối các nguồn lực và điều kiện đảm bảo thực hiện; phân công rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân, thời hạn hoàn thành các nhiệm vụ được nêu trong nghị quyết, văn bản. Chỉ đạo sâu sát, nghiêm túc việc cụ thể hoá, tổ chức thực hiện nghị quyết; thông qua sơ kết, tổng kết, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện để chấn chỉnh, bổ sung. 

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong các cơ quan Đảng, rà soát loại bỏ các thủ tục rườm rà, bất hợp lý. Đổi mới mạnh mẽ phong cách làm việc; chỉ đạo, giải quyết công việc đúng nguyên tắc, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cấp ủy và mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý. 

7- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị 

Kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địa phương, đơn vị. 

Cụ thể hoá và thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đã đề ra. Thực hiện nghiêm các quy định về phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp; tăng cường đấu tranh và xử lý nghiêm các biểu hiện suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, lợi ích nhóm. Thường xuyên kiểm tra, giám sát về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. 

Tiếp tục chỉ đạo giải quyết có hiệu quả những hạn chế, khuyết điểm qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy trực thuộc, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các sở, ban, ngành, đơn vị trong tỉnh, tập trung vào những vấn đề như: công tác tổ chức, cán bộ; giải quyết chế độ chính sách, quản lý tài nguyên khoáng sản, những sai phạm trong quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng... Chú trọng kiểm tra, giám sát việc khắc phục những khuyết điểm, hạn chế. 

Mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng đảng và hệ thống chính trị giai đoạn 2016 - 2020 được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI thảo luận, quyết định, thông qua là nguyện vọng, ý chí của toàn Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà. Với quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế so sánh, nhất là các cơ hội mới mở ra từ hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nêu cao tinh thần đoàn kết, chủ động sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp; Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVI sẽ là dấu mốc quan trọng, đưa Quảng Trị phát triển nhanh và bền vững./. 

                                                                                                                                       BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG TRỊ 

..................................................................................... 

[1] Đã hoàn thành quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Trị đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Quảng Trị đến năm 2015; Quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng và khoảng sản làm nguyên liệu xi măng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2008-2015, có tính đến 2020; Quy hoạch thăm dò, khai thác cát sỏi lòng sông của tỉnh giai đoạn 2011-2015, định hướng đến 2020; Đề án củng cố, khôi phục và phát triển làng nghề, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020. Lập quy hoạch chung xây dựng Khu Đông Nam Quảng Trị; Quy hoạch điện gió đến năm 2020; Quy hoạch các dự án sử dụng khí đến năm 2020; Quy hoạch bổ sung một số điểm mỏ sét làm VLXD đến năm 2015, có tính đến năm 2020; Quy hoạch các mỏ đất đắp phục vụ các công trình xây dựng; điều chỉnh Quy hoạch khoáng sản tỉnh Quảng Trị đến năm 2020; Đề án phát triển gạch không nung đến năm 2020. Đề án phát triển ngành cơ khí đến năm 2020, có tính đến năm 2025; Đề án và Nghị quyết về chính sách khuyến công trên địa bàn tỉnh. 

[2] Từ tháng 10/2010 đến nay đã có khoảng 100 dự án sản xuất công nghiệp được khởi công với tổng số vốn đầu tư 4.000 tỷ đồng, trong đó có khoảng 80 dự án với số vốn đầu tư 3.500 tỷ đồng đã hoàn thành, đi vào hoạt động như: Nhà máy bia Hà Nội Quảng Trị, Nhà máy MDF số 2, các nh à máy sản xuất viên nén năng lượng, tinh bột sắn, sản xuất phân hữu cơ vi sinh, Nhà máy sản xuất phân bón NPK,... 

[3] Trong 5 năm 2011-2015, toàn tỉnh thành lập mới trên 1.200 doanh nghiệp (chỉ tiêu ĐHXV: 1.000 - 1.200 doanh nghiệp), nâng tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh lên trên 2.500 doanh nghiệp, vốn đăng ký 16.000 tỷ đồng; giải quyết việc làm 33.000 lao động. Có trên 37.000 hộ kinh doanh cá thể (tăng 10,4% so với năm 2010), sử dụng 54.000 lđộng. 

[4] Toàn tỉnh hiện có 341 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và khoảng 7.150 tổ hợp tác với trên 58.265 thành viên. 

[5] Tổng vốn ODA thực hiện trong giai đoạn 2011-2015 khoảng 207,86 triệu USD; số lượng dự án ODA thực hiện gấp 1,17 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Tổng vốn huy động từ nguồn vốn NGOs đạt khoảng 18,81 triệu USD. 

[6] Trong 5 năm 2011-2015, đã hoàn thành đưa vào sử dụng 14 chợ: Thị trấn Ái Tử, Phương Lang, Thuận, Ngã Tư Sòng, Cửa Việt , ...Nâng tổng số chợ của toàn tỉnh lên 81 chợ theo quy hoạch (05 chợ hạng 1, 06 chợ hạng 2 và 70 chợ hạng 3, gồm 33 chợ kiên cố, 17 chợ bán kiên cố và 31 chợ tạm). Các cơ sở kinh doanh, siêu thị, trung tâm thương mại ở các khu đô thị được đầu tư nâng cấp và đi vào hoạt động. Đã đầu tư hoàn thành đưa vào sử dụng Kho cảng xăng dầu Cửa Việt, công suất thiết kế giai đoạn I là 45.000 m3 và 23 cửa hàng xăng dầu, nâng tổng số cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên địa bàn toàn tỉnh là 103. 

[7] Đường vào khu tái định cư Hoong Cóc, đường vào xã Hướng Sơn, đường Nguyễn Thị Lý, đường vào xã Vĩnh Ô đoạn từ ngã tư Bến Quan đến xã Vĩnh Hà, đường Đại-Độ-Thuận-Phước, đường vào xã A Ngo, Đường tránh lũ cứu hộ, cứu nạn phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ANQP vùng ven biển phía Nam Quảng Trị, cầu Đại Lộc, cầu Vĩnh Phước… Nâng cấp Quốc lộ 1A, cầu sông Hiếu và đường 2 đầu cầu, cầu Cam Hiếu, cầu An Mô, đường cơ động ven biển Hải An - Hải Khê, đường Tân Long - Lìa, đường cứu hộ, cứu nạn phát triển kinh tế Tây Triệu Phong - Nam Cam Lộ. 

[8] Đã hoàn thành và đưa vào sử dụng: hồ chứa nước Đá Mài và Tân Kim, hồ chứa nước trên đảo Cồn Cỏ, nâng cấp, xây mới 140,3 km kênh loại 2 và 231,3 km kênh loại 3, tưới, tiêu chủ động cho trên 85% diện tích gieo cấy lúa 2 vụ. 

[9] Dự án cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, miền núi, dự án phát triển cấp nước Đông Hà và vùng phụ cận; dự án cấp nước xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, xã Vĩnh Long, Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh,.. 

[10] Trong giai đoạn 2011 - 2015, đã đầu tư xây dựng mới lưới điện truyền tải (220kV, 110kV) với chiều dài 34,7 km. Đối với lưới điện phân phối, đã nâng cấp và xây dựng mới 2.630,7 km đường dây trung, hạ áp và 276 trạm biến áp, phụ tải. Đã hoàn thành, đưa vào sử dụng trạm biến áp 220KV (Triệu Phong), các trạm biến áp 110kV-25MVA Tà Rụt và Quán Ngang. Nâng công suất trạm biến áp 110 KV Lao Bảo từ 16MVA lên 25MVA, nâng công suất lắp đặt từ 141 MVA lên 200MVA. 

[11] Toàn tỉnh hiện có 1.205 trạm thu phát sóng di động (BTS). Đến năm 2015, toàn tỉnh có 529.082 thuê bao điện thoại, ước đạt mật độ 85,3 thuê bao/100 dân (năm 2010: 55 thuê bao/100 dân); 48.300 thuê bao internet, ước đạt mật độ 7,8 thuê bao/100 dân (năm 2010: 3 thuê bao/100 dân). 

[12] Giai đoạn 2011 - 2015, đưa vào sử dụng 13 khách sạn, trong đó 3 khách sạn 4 sao (Mường Thanh, Sepon Boutique Resort, Sài Gòn - Đông Hà), 3 khách sạn 3 sao, 7 khách sạn 2 sao; đưa tổng số khách sạn, nhà nghỉ du lịch trên địa bàn tỉnh lên 175, với 3 khách sạn 4 sao, 5 khách sạn 3 sao, 59 khách sạn 1 - 2 sao. 

[13] Một số công trình đầu tư xây dựng mới như: Quảng trường và Trung tâm văn hóa tỉnh, Nhà thi đấu đa năng, Thư viện tỉnh, Nhà tập luyện và thi đấu thể thao Vĩnh Linh, Thư viện và sân vận động thị xã Quảng Trị, nhà Thiếu nhi huyện Cam Lộ. Đã đầu tư xây dựng mới 32 cơ sở văn hoá thể thao cấp xã, phường, thị trấn, 110 cơ sở văn hoá làng bản khu phố. Đến nay toàn tỉnh xây dựng được 77 nhà văn hóa cấp xã, đạt tỷ lệ 54,6%; 909 nhà văn hóa cấp thôn, đạt tỷ lệ 85,8%. 

[14] Chỉ tiêu CTHĐ thực hiện ĐHXV: Tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ 100%, 8,5 bác sĩ/1 vạn dân. Năm 2015, đạt 9 bác sĩ/1 vạn dân. Tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ đạt 85%; 100% thôn bản có nhân viên y tế cộng đồng và nữ hộ sinh. 

[15] Bệnh viện đa khoa tỉnh xây dựng mới với quy mô 500 giường bệnh dự kiến cuối năm 2015 đưa vào sử dụng; đồng thời bổ sung quy hoạch nâng quy mô lên 700 giường bệnh hoàn thành trước năm 2020; Bệnh viện chuyên khoa Lao và Bệnh phổi và Phòng quản lý sức khỏe cán bộ tỉnh đã hoàn thành; Dự án mở rộng, nâng cấp bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chức năng Cửa Tùng đang đẩy nhanh tiến độ. có 08 Bệnh viện huyện quy mô từ 70 - 100 giường bệnh; 02 Bệnh viện khu vực Triệu Hải và Vĩnh Linh có quy mô 200 giường bệnh. 

[16] Từ năm 2011 đến nay đã huy động được 92,8 tỷ đồng, hỗ trợ xây dựng mới 2.508 nhà đại đoàn kết; hỗ trợ sửa chữa 5.378 nhà ở hộ nghèo. 

[17] Chỉ số PAPI của tỉnh năm 2012 xếp thứ 5/63 , năm 2013 xếp thứ 2/63 tỉnh, thành trong cả nước. 

[18] Đến nay toàn tỉnh có 16/20 sở, ban, ngành, 9/10 huyện, thị xã, thành phố, 141/141 xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. 

[19] Thực hiện cắm 31/35 vị trí cột mốc trên toàn tuyến Quảng Trị - Savannakhet và 31/33 vị trí cột mốc trên toàn tuyến Quảng Trị - Salavan . 

[20] Trên địa bàn tỉnh thực hiện thí điểm không HĐND ở 7 huyện, 13 phường; thí điểm bí thư đồng thời là chủ tịch UBND ở 1 huyện , 12 xã, phường, thị trấn. 

[21] Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã kết nạp được đảng viên ở 21/23 thôn, bản chưa có đảng viên và lập 54 chi bộ ở 98 chi bộ ghép ở các thôn, bản; hiện chỉ còn 01 thôn chưa có đảng viên, ... chi bộ sinh hoạt ghép (dưới 5% số thôn,bả n, khu phố). 

[22] Trong nhiệm kỳ đã kết nạp được 7.154 đảng viên (chỉ tiêu Đại hội XV: trên 6.500 đảng viên); tỷ lệ TCCSĐ TSVM hàng năm đạt 76,9% (chỉ tiêu Đại hội XV: trên 75%). 

[23] Kiểm tra: tổ chức đảng 2.624/1.820, đảng viên 1.550/1.016; giám sát: tổ chức đảng 2408/873, đảng viên 3.594/652. 

[24] Kiểm tra việc lãnh đạo bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND nhiệm kỳ 2011-2016; kiểm tra tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI về xây dựng Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XI; giám sát một số chương trình, dự án trọng điểm của tỉnh, Chương trình xây dựng nông thôn mới;... 

[25] Số tổ chức đảng bị xử lý kỷ luật giảm 52%, số đảng viên bị xử lý kỷ luật chiếm 2% so với tổng số đảng viên toàn Đảng bộ tỉnh (giảm 0,6% ). 

[26] Đàn bò giảm so với đầu nhiệm kỳ; từ 62.842 con, năm 2010 giảm xuống 54.000 con, năm 2015, bình quân giảm 3%/năm; tỷ lệ bò lai mới đạt 35%; tỷ lệ lợn nái ngoại, nái F1 đạt thấp. 

[27] Kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam tỉnh; xây dựng hệ thống các cầu: Châu Thị, Hội Yên I, Hội Yên II, An Tiêm; xây dựng mới cầu thứ 2 qua sông Thạch Hãn - thị xã Quảng Trị; nâng cấp Quốc lộ 9 đoạn từ Quốc lộ 1A đi cảng Cửa Việt dài 13,8 km; các tuyến đường cao tốc Đông Hà - Lao Bảo, Cam Lộ - Tuý Loan... 

[28] Cam và cây có múi ở vùng gò đồi Hải Lăng, bơ ở Vĩnh Linh, Gio Linh,...
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
 Mua thiết bị định vị: http://adsun.vn/, thiết bị dạy nghề, Website hữu ích tư vấn hỏi đáp pháp luật Netlaw.vn, tin tức kinh doanh, du lich thai lan, tour du lich campuchia, tour du lich campuchia,Bàn trà điện đa năng, tủ mát cũ, dich vu tham tu, dịch vụ thám tử, tham tu ha noi, thám tử hà nội, sim so dep,vai ao dai,tu dong cu, học lập trình web, gel tan mỡ pizu, mỹ phẩm pizu

TIN MỚI NHẤT

ĐĂNG NHẬP


cho thue xe 4 chothuốc, thue xe

DANH MỤC

XEM NHIỀU NHẤT